Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 999/2024/HS-PT

Ngày: 28 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng

Bà Lê Thuý Cầu

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 556/2024/TLPT- HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân T.

Do có kháng cáo của bị cáo và ông Tô Văn B, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1981 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là Nguyễn Văn S và mẹ là Trương Tú T1; có chồng Tô Văn B và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 9 năm 2022 cho đến nay. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thanh S1, Đoàn luật sư Thành phố H. (Có mặt)

- Bị hại:

  1. Huỳnh Kim D, sinh năm 1982 và ông Lê Phước D1, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Phước D1: bà Huỳnh Kim D, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; theo hợp đồng ủy quyền ngày 15 tháng 4 năm 2024. (Có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Bùi Văn K, là Luật sư của Công ty L11 – Chi nhánh V4, thuộc Đoàn luật sư Thành Phố H. (Vắng mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Trần Ngọc T2, là Luật sư của Công ty L12, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V. (Có mặt)

  3. Ông Lê Trường X, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: bà Cao Thị Túy G, là Luật sư của Văn phòng L13, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt)

  5. Lê Huỳnh Nhân Á, sinh năm 1990; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; chổ ở: số B, đường N, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  6. Phạm Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  7. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: bà Cao Thị Túy G, là Luật sư của Văn phòng L13, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt)

  8. Ông Trần Mạnh D2, sinh năm 1989; địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  9. Quách Thị An T3, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  10. Người đại diện theo ủy quyền: ông Đào Công K1, sinh năm 1964; địa chỉ: số A, đường L, Khóm G, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; theo giấy ủy quyền ngày 12 tháng 5 năm 2022. (Có mặt)

  11. Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  12. Ông Trịnh Minh S2, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  13. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: bà Cao Thị Túy G, là Luật sư của Văn phòng L13, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt)

  14. Lâm Bé H1, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  15. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: bà Cao Thị Túy G, là Luật sư của Văn phòng L13, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt)

  16. Nguyễn Mỹ L1, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  17. Đái Phương N, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  18. Ông Đái Sơn H2, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  19. Đái Lệ C, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  20. Tăng Thúy V, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  21. Mã Kim H3, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  22. Nguyễn Thị V1, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  23. Nguyễn Thị Cẩm T4, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  24. Phan Thanh K2, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  25. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: bà Cao Thị Túy G, là Luật sư của Văn phòng L13, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt)

  26. Dương Thị Phương D3, sinh năm 1966; NKTT: ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; chổ ở: đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
  27. Người đại diện theo ủy quyền: bà Dương Thị Phương L2, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; theo hợp đồng ủy quyền ngày 15 tháng 5 năm 2024. (Có mặt)

  28. Lê Thị V2, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  29. Lê Thanh P, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  30. Lê Kiều T5, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  31. Nguyễn Thị S3, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  32. Dương Thị Phương T6, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  33. Người đại diện theo ủy quyền: Dương Thị Phương D3, sinh năm 1966; NKTT: ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; chổ ở: đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ; theo giấy ủy quyền ngày 18 tháng 5 năm 2022. (Vắng mặt)

  34. Dương Thị Phương L2, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  35. Ngô Thu H4, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
  36. Người đại diện theo ủy quyền: ông Ngô Hữu P1, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; theo hợp đồng ủy quyền ngày 26 tháng 3 năm 2024. (Có mặt)

  37. Phan Thị L3, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  38. Ông Lâm Văn S4, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
  39. Người đại diện theo ủy quyền: bà Lâm Thị Thanh Q, sinh năm 1981; địa chỉ: Khóm C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; theo hợp đồng ủy quyền ngày 25 tháng 12 năm 2023. (Có mặt)

  40. Nguyễn Thị Hồng L4, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  41. Mã Thu A, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  42. Tô Thị Mộng T7, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  43. Nguyễn Kim P2, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  44. Nguyễn Thị L5, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  45. Đoàn Thị Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  46. Trần Mỹ L6, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  47. Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Minh N1, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; theo hợp đồng ủy quyền ngày 16 tháng 4 năm 2024. (Vắng mặt)

  48. Nguyễn Thị B1, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  49. Lê Thị V3, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  50. Nguyễn Thị S5, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  51. Trần Hà Kim L7, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  52. Trần Thị Mỹ P3, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  53. Nguyễn Thùy L8, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  54. Nguyễn Hồng N2, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  55. Nguyễn Thị Mỹ D4, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  56. Lâm Thị S6, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  57. Ông Đái Thành N3, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  58. Trần Thị H5, sinh năm 1983; NKTT: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)
  59. Võ Thị Mỹ D5, sinh năm 1980; địa chỉ: số B, đường C, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Ông Tô Văn B, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Uyên U, sinh năm 1983. Trú tại: 17.03 CC T, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.( Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị Thu H6, sinh năm 1976; địa chỉ: ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  2. Ngân hàng TMCP C1. Trụ sở: số A, đường T, C, H, thành phố Hà Nội.
  3. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn L9 – Chức vụ: P4. Theo Văn bản ủy quyền số 135 ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Chủ tịch Hội động quản trị. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo bắt đầu làm chủ hụi cho nhiều hụi viên trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu từ năm 2007 đến năm 2022. Vào năm 2021, do không có tiền thanh toán nợ hụi, bị cáo đã lợi dụng việc các hụi viên có điều kiện kinh tế, thường tham gia nuôi hụi để hưởng tiền lời, không yêu cầu cung cấp danh sách hụi viên, không quan tâm đến việc ai chơi cùng dây hụi và ai đã hốt hụi...

Khi hụi viên tham gia góp hụi, bị cáo cấp cho mỗi hụi viên 01 sổ tay nhỏ, trong đó ghi loại hụi và số tiền hụi viên tham gia, ngày mở hụi, số kỳ khui hụi, mỗi lần đóng tiền hụi hoặc hốt hụi bị cáo sẽ ký xác nhận số tiền hụi viên góp hụi hoặc hốt hụi rồi đưa lại cho hụi viên giữ.

Tuy nhiên, số tiền hụi viên tham gia trong cùng dây hụi không giống nhau (thấp nhất là 3.000.000đ/phần và cao nhất là 300.000.000đ/phần) và các hụi viên đều không biết số tiền tham gia của các hụi viên khác.

Trong 03 dây hụi chưa mãn, đều không có tổ chức khui hụi mà theo hình thức hụi dặn, 01 dây có 26 kỳ, nửa tháng khui 01 lần, số tiền đóng hụi cố định. Cụ thể, hụi viên tham gia 3.000.000đ thì đóng 2.475.000đ/01 kỳ, tham gia 200.000.000đ thì đóng 165.000.000đ/01 kỳ, hụi viên tham gia bao nhiêu tiền thì căn cứ theo tỷ lệ “số tiền tham gia x 0,825” để xác định số tiền góp hụi trong kỳ. Mỗi dây hụi quy định chỉ có 26 kỳ khui, nhưng dây hụi mở ngày 11 tháng 5 năm 2021 có 32 hụi viên tham gia góp hụi, dây hụi mở ngày 17 tháng 01 năm 2022 có 29 hụi viên tham gia góp hụi...; đồng thời dây hụi mở ngày 11 tháng 5 năm 2021 đã khui 25 kỳ nhưng chỉ có 16/32 hụi viên hốt hụi, dây hụi mở ngày 24 tháng 7 năm 2021 đã khui 20 kỳ nhưng chỉ có 04/23 hụi viên hốt hụi, dây hụi mở ngày 17 tháng 01 năm 2022 đã khui 08 kỳ nhưng chỉ có 01/29 hụi viên hốt hụi.

Tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2022 bị cáo tuyên bố vỡ hụi, đã chiếm đoạt số tiền 32/53 kỳ góp hụi của các hụi viên trong 03 dây hụi, gồm:

Dây thứ nhất: hụi nửa tháng, mở ngày 11 tháng 5 năm 2021 dương lịch (nhằm ngày 30 tháng 9 năm 2021 âm lịch), có 32 hụi viên tham gia, gồm 26 kỳ khui hụi, đã khui hụi được 25 kỳ, có 16 hụi viên đã hốt hụi, còn lại 16 hụi viên chưa hốt hụi. Số tiền góp hụi sống của 16 hụi viên là 15.765.750.000đ, đối trừ số tiền 02 hụi viên còn nợ hụi chết là 50.000.000đ. Số tiền bị cáo trong dây hụi này là: 15.715.750.000₫.

Dây thứ hai: hụi nửa tháng, mở ngày 24 tháng 7 năm 2021 dương lịch (nhằm ngày 15 tháng 6 năm 2021 âm lịch), có 23 hụi viên tham gia, gồm có 26 kỳ khui hụi, đã khui hụi được 20 kỳ, có 04 người hốt hụi (trong đó có 02 người hốt hụi, mỗi người hốt ½ trong phần hụi), còn lại 21 người chưa hốt hụi (trong đó có 02 người, mỗi người còn ½ trong 01 phần hụi). Số tiền góp hụi sống của 21 hụi viên là 16.408.425.000đ, đối trừ số tiền 03 hụi viên còn nợ hụi chết là 102.000.000đ. Số tiền bị cáo trong dây hụi này là: 16.306.425.000đ.

Dây thứ ba: hụi nửa tháng, mở ngày 17 tháng 01 năm 2022 dương lịch (nhằm ngày 15 tháng 12 năm 2021 âm lịch), có 29 hụi viên tham gia, gồm có 26 kỳ khui hụi, đã khui được 08 kỳ, có 01 người hốt hụi, còn lại 28 người chưa hốt hụi. Số tiền góp hụi sống của 28 hụi viên là 6.046.425.000đ, đối trừ số tiền 01 hụi viên nợ hụi chết là 480.000.000đ. Số tiền bị cáo trong dây hụi này là: 5.566.425.000₫.

Tổng cộng số tiền bị cáo chiếm đoạt của 45 hụi viên tham gia góp hụi trong 03 dây hụi là: 37.588.600.000₫

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, quyết định:

Căn cứ vào:

  • Điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 1 Điều 48; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
  • Điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 128, khoản 1 Điều 292, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điều 487 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T tù chung thân. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 12 tháng 9 năm 2022.

3. Về trách nhiệm bồi thường: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T và ông Tô Văn B cùng có nghĩa vụ trả tiền hụi cho các hụi viên, gồm:

  • - Bà Huỳnh Kim D và ông Lê Phước D1 với số tiền: 7.095.000.000đ.
  • - Ông Lê Trường X với số tiền: 4.032.500.000đ.
  • - Bà Lê Huỳnh Nhân Á với số tiền: 140.250.000đ.
  • - Bà Phạm Thị H với số tiền: 2.722.500.000đ.
  • - Ông Trần Mạnh D2 với số tiền: 2.581.750.000đ.
  • - Bà Quách Thị An T3 với số tiền: 3.588.750.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị L với số tiền: 540.000.000đ.
  • - Ông Trịnh Minh S2 với số tiền: 825.000.000đ.
  • - Bà Lâm Bé H1 với số tiền: 676.500.000đ.
  • - Bà Nguyễn Mỹ L1 với số tiền: 915.750.000đ.
  • - Bà Đái Phương N với số tiền: 245.750.000đ.
  • - Ông Đái Sơn H2 với số tiền: 230.750.000đ.
  • - Bà Đái Lệ C với số tiền: 303.500.000đ.
  • - Bà Tăng Thúy V với số tiền: 226.875.000đ.
  • - Bà Mã Kim H3 với số tiền: 206.250.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị V1 với số tiền: 742.500.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với số tiền: 49.500.000đ.
  • - Bà Phan Thanh K2 với số tiền: 5.280.000.000đ.
  • - Bà Dương Thị Phương D3 với số tiền: 255.750.000đ.
  • - Bà Lê Thị V2 với số tiền: 627.000.000đ.
  • - Bà Lê Thanh P với số tiền: 272.250.000đ.
  • - Bà Lê Kiều T5 với số tiền: 371.250.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị S3 với số tiền: 56.000.000đ.
  • - Bà Dương Thị Phương T6 với số tiền: 420.250.000đ.
  • - Bà Dương Thị Phương L2 với số tiền: 367.500.000đ.
  • - Bà Ngô Thu H4 với số tiền: 156.750.000đ.
  • - Bà Phan Thị L3 với số tiền: 132.000.000đ.
  • - Bà Lâm Thị S7 với số tiền: 330.000.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị Hồng L4 với số tiền: 123.750.000đ.
  • - Bà Mã Thu A với số tiền: 94.050.000đ.
  • - Bà Tô Thị Mộng T7 với số tiền: 82.500.000đ.
  • - Bà Nguyễn Kim P2 với số tiền: 32.500.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị L5 với số tiền: 92.812.500đ.
  • - Bà Đoàn Thị Đ với số tiền: 144.000.000đ.
  • - Bà Trần Mỹ L6 với số tiền: 277.500.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị B1 với số tiền: 165.000.000đ.
  • - Bà Lê Thị V3 với số tiền: 69.000.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị S5 với số tiền: 198.000.000đ.
  • - Bà Trần Hà Kim L7 với số tiền: 132.000.000đ.
  • - Bà Trần Thị Mỹ P3 với số tiền: 115.500.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thùy L8 với số tiền: 99.000.000đ.
  • - Bà Nguyễn Hồng N2 với số tiền: 75.500.000đ.
  • - Bà Nguyễn Thị Mỹ D4 với số tiền: 52.800.000đ.
  • - Bà Lâm Thị S6 với số tiền: 49.500.000đ.
  • - Ông Đái Thanh N4 với số tiền: 57.750.000đ.
  • - Bà Trần Thị H5 với số tiền: 132.000.000đ.

Đối với số tiền do bị cáo Nguyễn Xuân T và ông Tô Văn B đã tự nguyện nộp bồi thường, theo biên lai thu tiền số 0000002 ngày 26 tháng 10 năm 2023 với số tiền 180.000.000đ và 0000003 ngày 07 tháng 11 năm 2023 với số tiền 135.000.000đ của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu, sẽ được đối trừ vào trách nhiệm dân sự trong giai đoạn thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 20/5/2024, bị cáo Nguyễn Xuân T có đơn kháng cáo: Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm nhằm xét xử công tâm, công bằng trả hồ sơ để điều tra lại. Ngày 15/8/2024, bị cáo T có đơn kháng cáo bổ sung yêu cầu cấp phúc thẩm điều tra bổ sung số tiền hụi viên hiện đang nợ bị cáo lên tới 40.733.735 đồng (có danh sách kèm theo), toà cấp sơ thẩm chưa xem xét xử bị cáo là nặng.

Ngày 20/5/2024, ông Tô Văn B có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không buộc ông B cùng có trách nhiệm trả nợ với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo xác định nội dung kháng cáo là yêu cầu xem xét nguyên nhân bị cáo bị bể hụi và nợ tiền hụi viên do có nhiều hụi viên ở các dây hụi đã mãn hiện còn nợ bị cáo lên đến hơn 40 tỷ đồng, bản án sơ thẩm xử phạt tù Chung thân đối với bị cáo là quá nặng nên yêu cầu được giảm án. Bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo xác định trong 03 dây hụi bị truy tố hiện không có hụi viên nợ tiền bị cáo, gia đình bị cáo đang gặp khó khăn về kinh tế nên không thể nộp số tiền khắc phục hết cho bị các bị hại, tài sản có giá trị của bị cáo đã bị kê kiên nên gia đình bị cáo không thể chuyển nhượng để có tiền khắc phục hậu quả, bị cáo đồng ý phát mãi tài sản đã kê biên phần mà bị cáo được hưởng nhằm trả nợ cho hụi viên. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo có vay mượn và nộp thêm 500.000.000đ để khắc phục hậu quả, hiện nay có nhiều bị hại có đơn yêu cầu giảm án cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên yêu cầu được xem xét.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của ông Tô Văn B xác định, ông B không tham gia vào việc chơi hụi của bị cáo, việc bị cáo chơi hụi không đem lợi nhuận phục vụ gia đình. Sinh hoạt trong gia đình do ông xuất ra từ kinh doanh xăng dầu, bị cáo nợ tiền của nhiều hụi viên do có nhiều hụi viên hiện nợ bị cáo hơn 40.000.000.000₫.
  • Tại đơn xin giảm nhẹ hình phạt ngày 23/7/2024 và ngày 29/7/2024 các bị hại Nguyễn Thị B1; Nguyễn Thị L5; Lê Thị V3; Nguyễn Thị S3 xác định án sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nặng, vì bị cáo là người chăm lo gia đình, thành khẩn, ăn năn hối cải nên đề nghị giảm án cho bị cáo.
  • Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/9/2024 và ngày 26/9/2024, bị hại Trần Hà Cẩm L10; Quách Thị An T3; Ngô Hữu P1 xác định việc bị cáo làm chủ hụi chồng bị cáo là Tô Văn B biết và có tham gia vào việc gom hụi của nhiều hụi viên nên số tiền ông B nhận là rất lớn. Ông B kháng cáo không đồng ý cùng có trách nhiệm trả nợ cùng bị cáo là không phù hợp nên đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm về việc buộc bị cáo và ông B cùng có trách nhiệm trả nợ cho bà L10 là 136.000.000đ; trả cho bà T3 là 3.588.750.000đ; trả cho ông Ngô Hữu P1 là 156.750.000đ. Không đồng ý đơn yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
  • Các bị hại có mặt tại phiên toà và các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại đều xác định việc ông Tô Văn B và bị cáo là vợ chồng, ông B biết bị cáo có làm chủ nhiều dây hụi và việc ông B có nhận tiền hụi của hụi viên là có xảy ra trên thực tế. Án sơ thẩm buộc ông B và bị cáo có nghĩa vụ trả lại tiền chiếm đoạt của các hụi viên là phù hợp nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông B và kháng cáo của bị cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng cáo, đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm. Tuy nhiên, trong lúc nghị án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân bị cáo phạm tội có nhiều hụi viên của các dây hụi đã mãn hụi còn nợ tiền của bị cáo; bị cáo được nhiều bị hại xin giảm án; gia đình bị cáo có nộp khắc phục thêm 500.000.000₫ và bị cáo tự nguyện giao tài sản đã kê biên của bị cáo để khắc phục hậu quả cho các bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm và tại phiên toà sơ thẩm phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp lời khai bị hại và lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bị cáo bắt đầu làm chủ hụi của nhiều dây hụi và có nhiều hụi viên tham gia trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu từ năm 2007 đến năm 2022. Vào năm 2021, do không có tiền thanh toán nợ hụi và tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng việc các hụi viên có điều kiện kinh tế, thường tham gia nuôi hụi để hưởng tiền lời, không yêu cầu cung cấp danh sách hụi viên, không quan tâm đến việc ai chơi cùng dây hụi và ai đã hốt hụi nên bị cáo đã đưa ra những thông tin sai sự thật về việc hình thành các dây hụi cho các hụi viên tin tưởng để tham gia chơi hụi do bị cáo là chủ hụi nhưng trên thực tế chỉ là giao dịch song phương giữa bị cáo và một thành viên tham gia chơi, không có hình thành nhiều thành viên trong một dây hụi và bản thân bị cáo cũng xác định không biết như vậy có phải là hụi hay không. Vì không có phần hụi cụ thể cho 01 dây hụi, về thời gian, về hụi viên tham gia, bị cáo nhận và tính là dây hụi vào ngày bị cáo mở nhưng mỗi người là khác nhau, dao động từ 3.000.000đ đến 300.000.000đ.

Trong 03 dây hụi chưa mãn, đều không có tổ chức khui hụi mà theo hình thức hụi dặn, 01 dây có 26 kỳ, nửa tháng khui 01 lần, số tiền đóng hụi cố định. Cụ thể, hụi viên tham gia 3.000.000đ thì đóng 2.475.000đ/01 kỳ, tham gia 200.000.000đ thì đóng 165.000.000đ/01 kỳ, hụi viên tham gia bao nhiêu tiền thì căn cứ theo tỷ lệ “số tiền tham gia x 0,825” để xác định số tiền góp hụi trong kỳ. Mỗi dây hụi quy định chỉ có 26 kỳ khui, nhưng dây hụi mở ngày 11 tháng 5 năm 2021 có 32 hụi viên tham gia góp hụi, dây hụi mở ngày 17 tháng 01 năm 2022 có 29 hụi viên tham gia góp hụi...; đồng thời dây hụi mở ngày 11 tháng 5 năm 2021 đã khui 25 kỳ nhưng chỉ có 16/32 hụi viên hốt hụi, dây hụi mở ngày 24 tháng 7 năm 2021 đã khui 20 kỳ nhưng chỉ có 04/23 hụi viên hốt hụi, dây hụi mở ngày 17 tháng 01 năm 2022 đã khui 08 kỳ nhưng chỉ có 01/29 hụi viên hốt hụi.

Tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2022 bị cáo tuyên bố vỡ hụi, đã chiếm đoạt số tiền 32/53 kỳ góp hụi của các hụi viên trong 03 dây hụi, gồm:

Dây thứ nhất: hụi nửa tháng, mở ngày 11 tháng 5 năm 2021 dương lịch (nhằm ngày 30 tháng 9 năm 2021 âm lịch), có 32 hụi viên tham gia, gồm 26 kỳ khui hụi, đã khui hụi được 25 kỳ, có 16 hụi viên đã hốt hụi, còn lại 16 hụi viên chưa hốt hụi. Số tiền góp hụi sống của 16 hụi viên là 15.765.750.000đ, đối trừ số tiền 02 hụi viên còn nợ hụi chết là 50.000.000đ. Số tiền bị cáo trong dây hụi này là: 15.715.750.000₫.

Dây thứ hai: hụi nửa tháng, mở ngày 24 tháng 7 năm 2021 dương lịch (nhằm ngày 15 tháng 6 năm 2021 âm lịch), có 23 hụi viên tham gia, gồm có 26 kỳ khui hụi, đã khui hụi được 20 kỳ, có 04 người hốt hụi (trong đó có 02 người hốt hụi, mỗi người hốt ½ trong phần hụi), còn lại 21 người chưa hốt hụi (trong đó có 02 người, mỗi người còn ½ trong 01 phần hụi). Số tiền góp hụi sống của 21 hụi viên là 16.408.425.000đ, đối trừ số tiền 03 hụi viên còn nợ hụi chết là 102.000.000đ. Số tiền bị cáo trong dây hụi này là: 16.306.425.000đ.

Dây thứ ba: hụi nửa tháng, mở ngày 17 tháng 01 năm 2022 dương lịch (nhằm ngày 15 tháng 12 năm 2021 âm lịch), có 29 hụi viên tham gia, gồm có 26 kỳ khui hụi, đã khui được 08 kỳ, có 01 người hốt hụi, còn lại 28 người chưa hốt hụi. Số tiền góp hụi sống của 28 hụi viên là 6.046.425.000đ, đối trừ số tiền 01 hụi viên nợ hụi chết là 480.000.000đ. Số tiền bị cáo trong dây hụi này là: 5.566.425.000₫.

Tổng cộng số tiền bị cáo chiếm đoạt của 45 hụi viên tham gia góp hụi trong 03 dây hụi là: 37.588.600.000₫ là có diễn ra trên thực tế nên bản án sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, các bị hại và ông Tô Văn B không kháng cáo về tội danh và Điều luật áp dụng; không kháng cáo về số tiền cụ thể bị cáo và ông B phải trả cho các bị hại; Viện kiểm sát không kháng nghị. Do không có kháng cáo, kháng nghị các vấn đề nêu trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Xét kháng cáo của yêu cầu được giảm án của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những chiếm đoạt tiền của nhiều bị hại mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương, số tiền chiếm đoạt rất lớn trên 30.000.000.000đ nên cần xử lý nghiêm. Án sơ thẩm có nhận định bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại số tiền 2.975.562.500đ là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng lại xử phạt bị cáo mức cao nhất của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tù Chung thân có phần nghiêm khắc. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có nộp khắc phục thêm 500.000.000đ, bị cáo tự nguyện giao tài sản đã kê biên mà bị cáo được hưởng nhằm phát mãi thu hồi nợ cho bị hại, hiện nay có nhiều bị hại có yêu cầu giảm án cho bị cáo là tình tiết mới phát sinh. Nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thiện chí khắc phục hậu quả nên Hội đồng chấp nhận giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Như đã phân tích, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố hồ Chí Minh đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

[3] Xét kháng cáo của ông Tô Văn B, không đồng ý cùng có trách nhiệm trả nợ cho các bị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo và ông B là vợ chồng, trong thời gian chung sống tuy ông B không tham gia và không biết việc bị cáo có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng việc bị cáo làm chủ hụi thì ông B biết, nhiều bị hại có đóng hụi thông qua ông B và ông B cũng ký nhận vào sổ hụi. Giữa bị cáo và ông B không có thoả thuận phân chia tài sản chung, tài sản riêng cũng như nghĩa vụ trả nợ trong thời kỳ hôn nhân nên về nguyên tắc, nợ trong thời kỳ hôn nhân thì vợ chồng cùng có trách nhiệm thanh toán. Mặc khác, trước khi khởi tố vụ án, ông B có đồng ý cùng bị cáo trả cho bà Huỳnh Kim D và ông Lê Phước D1 với số tiền nợ hụi là 7.095.000.000đ nên bản án sơ thẩm buộc ông Tô Văn B và bị cáo Nguyễn Xuân T cùng có trách nhiệm trả nợ cho các bị hại là đúng quy định của pháp luật. Ông Tô Văn B kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới chứng minh cho nội dung kháng cáo nên không được chấp nhận mà cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố hồ Chí Minh là bác kháng cáo của ông B.

[4] Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không chịu án phí phúc thẩm, ông Tô Văn B kháng cáo không được chấp nhận nên phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T, không chấp nhận kháng cáo của ông Tô Văn B. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về hình phạt.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T, 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 12/9/2022.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 128, khoản 1 Điều 292, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 487 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
  5. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T và ông Tô Văn B cùng có nghĩa vụ trả tiền hụi cho các hụi viên, gồm:

    • - Bà Huỳnh Kim D và ông Lê Phước D1 với số tiền: 7.095.000.000đ.
    • - Ông Lê Trường X với số tiền: 4.032.500.000đ.
    • - Bà Lê Huỳnh Nhân Á với số tiền: 140.250.000đ.
    • - Bà Phạm Thị H với số tiền: 2.722.500.000đ.
    • - Ông Trần Mạnh D2 với số tiền: 2.581.750.000đ.
    • - Bà Quách Thị An T3 với số tiền: 3.588.750.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị L với số tiền: 540.000.000đ.
    • - Ông Trịnh Minh S2 với số tiền: 825.000.000đ.
    • - Bà Lâm Bé H1 với số tiền: 676.500.000đ.
    • - Bà Nguyễn Mỹ L1 với số tiền: 915.750.000đ.
    • - Bà Đái Phương N với số tiền: 245.750.000đ.
    • - Ông Đái Sơn H2 với số tiền: 230.750.000đ.
    • - Bà Đái Lệ C với số tiền: 303.500.000đ.
    • - Bà Tăng Thúy V với số tiền: 226.875.000đ.
    • - Bà Mã Kim H3 với số tiền: 206.250.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị V1 với số tiền: 742.500.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với số tiền: 49.500.000đ.
    • - Bà Phan Thanh K2 với số tiền: 5.280.000.000đ.
    • - Bà Dương Thị Phương D3 với số tiền: 255.750.000đ.
    • - Bà Lê Thị V2 với số tiền: 627.000.000đ.
    • - Bà Lê Thanh P với số tiền: 272.250.000đ.
    • - Bà Lê Kiều T5 với số tiền: 371.250.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị S3 với số tiền: 56.000.000đ.
    • - Bà Dương Thị Phương T6 với số tiền: 420.250.000đ.
    • - Bà Dương Thị Phương L2 với số tiền: 367.500.000đ.
    • - Bà Ngô Thu H4 với số tiền: 156.750.000đ.
    • - Bà Phan Thị L3 với số tiền: 132.000.000đ.
    • - Bà Lâm Thị S7 với số tiền: 330.000.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị Hồng L4 với số tiền: 123.750.000đ.
    • - Bà Mã Thu A với số tiền: 94.050.000đ.
    • - Bà Tô Thị Mộng T7 với số tiền: 82.500.000đ.
    • - Bà Nguyễn Kim P2 với số tiền: 32.500.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị L5 với số tiền: 92.812.500đ.
    • - Bà Đoàn Thị Đ với số tiền: 144.000.000đ.
    • - Bà Trần Mỹ L6 với số tiền: 277.500.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị B1 với số tiền: 165.000.000đ.
    • - Bà Lê Thị V3 với số tiền: 69.000.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị S5 với số tiền: 198.000.000đ.
    • - Bà Trần Hà Kim L7 với số tiền: 132.000.000đ.
    • - Bà Trần Thị Mỹ P3 với số tiền: 115.500.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thùy L8 với số tiền: 99.000.000đ.
    • - Bà Nguyễn Hồng N2 với số tiền: 75.500.000đ.
    • - Bà Nguyễn Thị Mỹ D4 với số tiền: 52.800.000đ.
    • - Bà Lâm Thị S6 với số tiền: 49.500.000đ.
    • - Ông Đái Thanh N4 với số tiền: 57.750.000đ.
    • - Bà Trần Thị H5 với số tiền: 132.000.000đ.

    Đối với số tiền do bị cáo Nguyễn Xuân T và ông Tô Văn B đã tự nguyện nộp bồi thường theo biên lai thu tiền số 0000002 ngày 26 tháng 10 năm 2023 với số tiền 180.000.000đ; biên lai 0000003 ngày 07 tháng 11 năm 2023 với số tiền 135.000.000đ và theo biên lai thu tiền số 0000174 ngày 25 tháng 10 năm 2024 với số tiền 500.000.000đ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu, được đối trừ vào trách nhiệm dân sự trong giai đoạn thi hành án.

  6. Về án phí: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc ông Tô Văn B phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân T không nộp án phí phúc thẩm.
  7. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND Tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND Tỉnh Bạc Liêu;
  • - Cục THADS Tỉnh Bạc Liêu;
  • - Công an Tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Bạc Liêu;
  • - Trại tạm giam Tỉnh Bạc Liêu;
  • - Trại tạm giam Tỉnh Bạc Liêu;
  • (Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 20bBDQK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 999/2024/HS-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 999/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger