|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 998/2024/DS - PT Ngày: 06-12-2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thương
Các Thẩm phán: 1. Bà Phan Thị Tú Oanh
2. Bà Nguyễn Thị Kim Cương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 và ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 768/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5595/2024/QĐ - PT ngày 22 tháng 10 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 15951/2024/QĐ-PT ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
Địa chỉ: T, A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C và bà Dương Thị Hải L.
Địa chỉ: D đường C tháng B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Trần Nghiệp B, sinh năm 1975.
Địa chỉ: số A đường số A, khu dân cư D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1955.
Địa chỉ: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 01/11/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Đặng Thị Tuyết M.
Do có kháng cáo của bị đơn ông Trần Nghiệp B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và bản tự khai của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/07/2022, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Trần Nghiệp B có ký hợp đồng cấp tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD. Theo đó, Ngân hàng cho ông Trần Nghiệp B vay vốn với số tiền cho vay là 10.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay là 360 tháng; Mục đích cho vay: Thanh toán tiền nhận chuyển nhượng nhà ở tại Thửa đất số 1485, tờ bản đồ số 48, địa chỉ số H, đường số A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD 446986, số vào sổ cấp GCN: CS 66224/DA do Sở T cấp ngày 03/12/2021. Ngoài ra, ông Trần Nghiệp B có ký kết phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 vào ngày 03/8/2022 với hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng).
* Theo hợp đồng cấp tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/7/2022.
Trong quá trình vay vốn, Khách hàng đã thanh toán một phần gốc, lãi và lãi chậm trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.009.439.205 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm lẻ chín triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn hai trăm lẻ năm đồng), cụ thể như sau:
- Gốc: 292.063.834 đồng.
- Lãi: 717.054.055 đồng.
- Lãi chậm trả: 321.316 đồng.
Khách hàng thường xuyên phát sinh quá hạn gốc và lãi từ tháng 06/2023 trở lại đây. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc ông Trần Nghiệp B trả nợ gốc, lãi và lãi chậm trả, nhưng ông Trần Nghiệp B vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình như đã cam kết tại các hợp đồng tín dụng, ông Trần Nghiệp B không thanh toán nợ tại Ngân hàng.
* Theo phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022.
Khách hàng bắt đầu phát sinh giao dịch số tiền 49.500 đồng vào ngày 17/8/2022. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng khách hàng có phát sinh nhiều giao dịch ghi nợ và nhiều giao dịch ghi có thẻ tín dụng. Tuy nhiên thẻ tín dụng được phát hành theo phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022 của khách hàng được bảo đảm bằng tài sản nêu trên.
Chính vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn: Thực hiện trả đầy đủ nợ gốc và lãi vay phát sinh cho Ngân hàng, cụ thể như sau:
-
-Buộc ông Trần Nghiệp B thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng với tổng số tiền phải trả tạm tính đến ngày 16/08/2024 là 11.539.807.237 đồng, cụ thể:
Tổng cộng số tiền gốc, lãi, lãi chậm trả theo Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD phải trả tạm tính đến ngày 16/08/2024 là: 11.441.102.626 đồng (Bằng chữ: Mười một tỷ bốn trăm bốn mươi mốt triệu một trăm lẻ hai nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng), cụ thể:
- + Gốc: 10.207.936.166 đồng.
- + Lãi: 1.157.079.255 đồng.
- + Lãi chậm trả: 76.087.205 đồng.
-
- Tổng cộng số tiền gốc, lãi, lãi chậm trả theo phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 tạm tính đến ngày 16/08/2024 là: 98.704.611 đồng (Bằng chữ: Chín mươi tám triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn sáu trăm mười một đồng), cụ thể:
- + Gốc và lãi: 98.704.611 đồng.
- - Tiền lãi phát sinh mỗi ngày tiếp theo sau từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thu hết nợ được tính theo quy định trong Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ký ngày 25/07/2022 và phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022.
- -Trường hợp ông Trần Nghiệp B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ theo thời hạn phán quyết của Tòa án, đề nghị cơ quan thi hành án xử lý phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 308/2022/14193343/HĐBĐ ngày 03/8/2022 là: Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 1485, tờ bản đồ số 48, địa chỉ số H, đường số A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Giấy tờ về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD 446986, số vào sổ cấp GCN: CS 66224/DA do Sở T cấp ngày 03/12/2021.
- - Đề nghị Quý Tòa xét xử tuyên buộc ông Trần Nghiệp B có trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản nợ gốc, lãi và lãi chậm trả nêu trên cho đến khi trả dứt nợ vay và các chi phí tố tụng liên quan mà Ngân hàng ứng trước (nếu có) cho Ngân hàng theo quy định. Trường hợp không trả sẽ phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ vay.
2/Bị đơn có đơn xin vắng mặt và ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên Tòa:
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
- - Buộc ông Trần Nghiệp B thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng với tổng số tiền tính đến ngày 16/8/2024 là 11.539.807.237 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/7/2022 và phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022.
- - Buộc ông B phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 17/8/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số
308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/07/2022 và phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022.
- - Trường hợp ông Trần Nghiệp B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ theo thời hạn phán quyết của Tòa án, Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 308/2022/14193343/HĐBĐ ngày 03/8/2022 là: Nhà đất thửa đất số 1485, tờ bản đồ số 48, địa chỉ số H, đường số A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD 446986, số vào sổ cấp GCN CS 66224/DA do Sở T cấp ngày 03/12/2021 để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Trần Nghiệp B phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền là 11.539.807.237 đồng (Mười một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, tám trăm lẻ bảy nghìn, hai trăm ba mươi bảy đồng), tính đến ngày 16/8/2024, trong đó gồm:
- +Tổng cộng số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/7/2022 phải trả tính đến ngày 16/08/2024 là 11.441.102.626 đồng (tiền gốc là 10.207.936.166 đồng, tiền lãi là 1.157.079.255 đồng và lãi chậm trả là 76.087.205 đồng);
- + Tổng cộng số tiền tiền gốc và lãi theo phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022 phải trả tính đến ngày 16/08/2024 là 98.704.611 đồng.
Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- -Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 17/8/2024 cho đến khi ông Trần Nghiệp B trả xong khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/7/2022 và phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022 của Ngân hàng TMCP Đ.
- -Trường hợp ông Trần Nghiệp B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 308/2022/14193343/HĐBĐ ngày 03/8/2022 là: Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 1485, tờ bản đồ số 48, địa chỉ số H, đường số A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD 446986, số vào sổ cấp GCN: CS 66224/DA do Sở T cấp ngày 03/12/2021 để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Nghiệp B phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 119.539.807 đồng (Một trăm mười chín triệu, năm trăm ba mươi chín nghìn, tám trăm lẻ bảy đồng).
Ông Trần Nghiệp B phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Ông Trần Nghiệp B có trách nhiệm hoàn trả
tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho Ngân hàng TMCP Đ.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 59.549.290 đồng (Năm mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi chín nghìn, hai trăm chín mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0020118 ngày 25/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quy định về thi hành án cho các bên đương sự.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, ông Trần Nghiệp B có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm; yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày yêu cầu kháng cáo cụ thể như sau:
Ông Trần Nghiệp B yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, lý do: Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Công ty TNHH H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vì: Cùng một tài sản là nhà, đất tại số H, đường A, xã P, huyện B, Ngân hàng đồng ý cho ông Trần Nghiệp B lấy tài sản này thế chấp Ngân hàng TMCP Đ (gọi là ngân hàng) đối với hai khoản vay là một khoản vay cho cá nhân ông B và một khoản vay cho Công ty TNHH H mà không đưa Công ty vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng.
Đại diện nguyên đơn trình bày: không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.
Phần tranh luận:
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày tranh luận: Nhận thấy quá trình giải quyết tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thiếu người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH H1. Vì tài sản thế chấp là nhà, đất vừa đảm bảo khoản vay cá nhân ông B, đồng thời cũng là tài sản bảo lãnh cho khoản vay của Công ty TNHH H1. Do đó, Công ty TNHH H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Bên cạnh đó, B2 là người khởi kiện nhưng không cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm việc tài sản thế chấp được thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho 02 khoản vay tại B2, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên được bảo lãnh là Công ty TNHH H1. Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ liên quan đến cách tính lãi trong hạn, quá hạn và cơ sở tính lãi chậm như quyết định bản án sơ thẩm đã tuyên. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện B2 từ chối việc cung cấp quy trình tiến hành thẩm định tài
sản trước và sau khi vay, từ chối cung cấp chứng cứ là hoàn toàn không có cơ sở. Từ những phân tích trên, đề nghị chấp thuận đơn kháng cáo của ông B yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 284/2024/DS-ST của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày tranh luận: Hiện nay vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với doanh nghiệp chưa được Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử, căn cứ theo quy định pháp luật cho phép ngân hàng được quyền thế chấp 1 tài sản để bảo đảm cho 1,2 hoặc nhiều khoản vay. Do đó khi thi hành án thì cơ quan thi hành án sẽ thi hành theo quy định pháp luật. Vì vậy, việc luật sư bị đơn yêu cầu Tòa án hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở, cấp sơ thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng để làm thay đổi nội dung vụ án. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đối với kháng cáo của bị đơn về việc đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ buộc ông Trần Nghiệp B trả nợ vay cho Ngân hàng với tổng số tiền phải trả tạm tính đến ngày 16/8/2024 là 11.539.807.237 đồng, cụ thể: (gốc 10.207.936.166 đồng, lãi 1.157.079.255 đồng, lãi chậm trả 76.087.205 đồng và số tiền gốc, lãi, lãi chậm trả thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 16/8/2024 là 98.704.611 đồng. Tiền lãi phát sinh từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thu hết nợ được tính theo quy định trong Hợp đồng tín dụng và Thẻ tín dụng.
Trường hợp ông B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ, đề nghị Cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp bất động sản để thu hồi nợ.
Bản án sơ thẩm nhận định: Xét Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/7/2022 và phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Trần Nghiệp B được giao kết hợp pháp vì có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật.
Căn cứ bản sao kê rút vốn hợp đồng tín dụng ngày 25/7/2022, bản sao kê tài khoản tiền vay của ông B từ ngày 25/7/2022 đến ngày 16/8/2024 do Ngân hàng cung cấp, có cơ sở xác định ông B đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 1.009.439.205 đồng, cụ thể: (gốc 292.063.834 đồng, lãi 717.054.055 đồng, lãi chậm trả 321.316 đồng).
Từ sau ngày 26/6/2023 đến nay ông Bình thường X phát sinh quá hạn gốc và lãi theo nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng do đó có cơ sở xác định ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ và còn nợ của Ngân hàng số tiền 11.441.102.626 đồng (gốc 10.207.936.166 đồng, lãi 1.157.079.255 đồng, lãi chậm trả 76.087.205 đồng) tính đến ngày 16/8/2024. Hai bên thỏa thuận mức lãi xuất vay, lãi xuất quá hạn, lãi chậm trả theo hợp đồng phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng và Khoản 2 Điều 9 của bản Điều khoản và điều kiện vay (đính kèm Hợp đồng cấp tín dụng) của Ngân hàng TMCP Đ. Như vậy, đến nay đã quá hạn thực hiện nghĩa vụ của các đợt thanh toán nhưng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của mỗi kỳ trả nợ.
Căn cứ vào phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, bản sao kê tài khoản thẻ tín dụng và tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của ông B từ ngày 20/8/2022 đến ngày 16/8/2024, có cơ sở xác định ông B còn nợ của Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 98.704.611 đồng tính đến ngày 16/8/2024. Hai bên thỏa thuận mức lãi xuất, phí được quy định chi tiết tại Biểu phí dịch vụ do Ngân hàng TMCP Đ thông báo theo từng thời kỳ, Biểu phí dịch vụ có thể thay đổi trong quá trình sử dụng thẻ của Chủ thẻ là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Trần Nghiệp B và Ngân hàng TMCP Đ đã ký Hợp đồng thế chấp số 308/2022/14193343/HĐBĐ ngày 03/8/2022 công chứng tại Văn phòng công chứng, ông B thế chấp tài sản là nhà đất tại thửa đất số 1485, tờ bản đồ số 48, địa chỉ số H, đường số A, xã P, huyện B theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD 446986, số vào sổ cấp GCN: CS 66224/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T cấp ngày 03/12/2021; Việc các bên thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp là tự nguyện và nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, căn cứ vào Điều 10, 11 và Điều 12 của Hợp đồng thế chấp, do đó nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản của ông B là có cơ sở.
Từ những phân tích nêu trên, kháng cáo của bị đơn ông Trần Nghiệp B là không có căn cứ để chấp nhận.
Các vấn đề khác cấp sơ thẩm đã xét xử đúng quy định và không có kháng cáo nên không xem xét.
Bởi các lẽ trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Nghiệp B. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10.
Án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: - Bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định đã tạm nộp án phí phúc thẩm nên xác định là hợp lệ.
- Về ủy quyền của đương sự: Nguyên đơn ủy quyền cho ông Nguyễn Văn C hoặc bà Dương Thị Hải L đại diện. Bị đơn ủy quyền cho bà Nguyễn Thị D đại diện. Việc ủy quyền của đương sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn về việc cấp sơ thẩm không đưa Công ty TNHH H vào tham gia tố tụng, nhận thấy: Theo Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7 (do đại diện bị đơn nộp tại phiên tòa) thì Ngân hàng TMCP Đ1 khởi kiện Công ty TNHH H (do ông Trần Nghiệp B là người đại diện theo pháp luật của Công ty) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Vụ án được Tòa án Quận 7 thụ lý giải quyết theo thẩm quyền theo thông báo thụ lý số 174/2023/TLST-KDTM ngày 11/12/2023. Theo thông báo thụ lý vụ án số 208/2024/TLST-DS ngày 25/4/2024 của TAND Quận 10 thụ lý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 đối với ông Trần Nghiệp B về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Như vậy, việc ngân hàng khởi kiện cá nhân ông B đối với khoản vay cá nhân, được TAND Quận 10 thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn đã có ý kiến trình bày đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xin vắng mặt. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn không có cơ sở nên không chấp nhận.
[3] Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/7/2022 và Bảng kê rút vốn/hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 25/7/2022 cùng lời trình bày của đương sự, có cơ sở xác định: nguyên đơn cho bị đơn vay vốn với số tiền cho vay là 10.500.000.000 đồng; Thời hạn vay là 360 tháng; Mục đích cho vay: Thanh toán tiền nhận chuyển nhượng nhà ở tại Thửa đất số 1485, tờ bản đồ số 48, địa chỉ số H, đường số A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD 446986, số vào sổ cấp GCN: CS 66224/DA do Sở T cấp ngày 03/12/2021.
Trong quá trình vay vốn, bị đơn đã thanh toán một phần gốc, lãi và lãi chậm trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 1.009.439.205 đồng, trong đó: tiền gốc: 292.063.834 đồng; Lãi: 717.054.055 đồng; Lãi chậm trả: 321.316 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tổng cộng số tiền gốc, lãi, lãi chậm trả theo Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD tạm tính đến ngày 16/08/2024 là: 11.441.102.626, cụ thể: Gốc: 10.207.936.166 đồng; Lãi: 1.157.079.255 đồng; Lãi chậm trả: 76.087.205 đồng.
Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết là vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đồng thời hợp đồng tín dụng có quy định về lãi suất, việc thỏa thuận về lãi là tự nguyện và phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng và quy định của pháp luật. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc còn thiếu và nợ lãi tạm tính đến ngày 16/08/2024 là: 11.441.102.626, cụ thể:
Gốc: 10.207.936.166 đồng; Lãi: 1.157.079.255 đồng; Lãi chậm trả: 76.087.205 đồng được Tòa án sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.
[4] Căn cứ vào phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/08/2022, bản sao kê tài khoản thẻ tín dụng và tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của ông B từ ngày 20/8/2022 đến ngày 16/8/2024 cho Ngân hàng có cơ sở xác định ông B còn nợ của Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 98.704.611 đồng tính đến ngày 16/8/2024. Hai bên thỏa thuận mức lãi suất, phí được quy định chi tiết tại Biểu phí dịch vụ do Ngân hàng TMCP Đ thông báo theo từng thời kỳ, Biểu phí dịch vụ có thể thay đổi trong quá trình sử dụng Thẻ của Chủ thẻ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng cộng số tiền gốc, lãi, lãi chậm trả theo phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 tạm tính đến ngày 16/08/2024 là: 98.704.611 đồng, cụ thể: Gốc và lãi: 98.704.611 đồng là có căn cứ.
[5] Xét thấy để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ông Trần Nghiệp B và Ngân hàng TMCP Đ đã ký Hợp đồng thế chấp số 308/2022/14193343/HĐBĐ ngày 03/8/2022 công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 024533, quyển số 08/2022TP/CC-SCC/HĐGD, ông B thế chấp tài sản là nhà đất tại thửa đất số 1485, tờ bản đồ số 48, địa chỉ số H, đường số A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD 446986, số vào sổ cấp GCN: CS 66224/DA do Sở T cấp ngày 03/12/2021; việc các bên thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp là tự nguyện và nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, căn cứ vào các Điều 10, 11 và Điều 12 của Hợp đồng thế chấp nêu trên do đó nguyên đơn yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm của ông B để trả nợ cho nguyên đơn là có cơ sở.
[6] Từ phân tích trên, yêu cầu kháng cáo của bị đơn không có cơ sở nên không được HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận; Giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về án phí phúc thẩm: Bị đơn phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Nghiệp B.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Trần Nghiệp B phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền là 11.539.807.237 đồng (Mười một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, tám trăm lẻ bảy nghìn, hai trăm ba mươi bảy đồng), tính đến ngày 16/8/2024, trong đó gồm:
- +Tổng cộng số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/7/2022 phải trả tính đến ngày 16/08/2024 là 11.441.102.626 đồng (tiền gốc là 10.207.936.166 đồng, tiền lãi là 1.157.079.255 đồng và lãi chậm trả là 76.087.205 đồng);
- + Tổng cộng số tiền tiền gốc và lãi theo phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022 phải trả tính đến ngày 16/08/2024 là 98.704.611 đồng.
Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- -Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 17/8/2024 cho đến khi ông Trần Nghiệp B trả xong khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 308/2022/14193343/HĐTD ngày 25/7/2022 và phiếu Đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 14193343 ngày 03/8/2022 của Ngân hàng TMCP Đ.
- -Trường hợp ông Trần Nghiệp B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 308/2022/14193343/HĐBĐ ngày 03/8/2022 là: Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 1485, tờ bản đồ số 48, địa chỉ số H, đường số A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD 446986, số vào sổ cấp GCN: CS 66224/DA do Sở T cấp ngày 03/12/2021 để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Nghiệp B phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 119.539.807 đồng (Một trăm mười chín triệu, năm trăm ba mươi chín nghìn, tám trăm lẻ bảy đồng).
Ông Trần Nghiệp B phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Ông Trần Nghiệp B có trách nhiệm hoàn trả tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho Ngân hàng TMCP Đ.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 59.549.290 đồng (Năm mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi chín nghìn, hai trăm chín mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0020118 ngày 25/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Nghiệp B phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ vào án phí tạm nộp theo biên lai thu số 0020586 ngày 16/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Kim Thương |
Bản án số 998/2024/DS - PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 998/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trợ nợ theo hợp đồng tín dụng. Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
