Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 998/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08 tháng 8 năm 2024

V/v Không công nhận quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Vân.
  2. Ông Võ Văn Dương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi: Không tham gia phiên Tòa.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 495/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 336/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 383/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Công C, sinh năm: 1966 (Có mặt).
    Nơi thường trú: Số A C, tổ A, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Tạm trú: Số I Tỉnh lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị V, sinh năm: 1968 (Vắng mặt).
    Nơi thường trú: Số A C, tổ A, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 12/3/2024, bản tự khai ngày 12/3/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Trần Công C trình bày như sau:

Ông và bà Huỳnh Thị V quen biết tìm hiểu nhau năm 1994, tự nguyện xây dựng gia đình năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn do thiếu hiểu biết. Sau khi xây dựng gia đình xong, vợ chồng ông sống ở nhà riêng, quá trình chung sống cũng có hạnh phúc dù đôi lúc có xảy ra vài mâu thuẫn nhỏ như nhiều gia đình khác. Đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bà V không còn quan tâm đến gia đình, muốn làm gì thì làm, không tham khảo, bàn bạc với chồng còn, bà V vay tiền tín dụng đen bên ngoài đổ nợ, chủ nợ tìm đến tận nhà để đòi nợ, làm cho gia đình lâm vào cảnh bất an. Ông có khuyên nhủ nhưng bà V không nghe, ông đã từng muốn ly hôn một lần nhưng vì các con, ông chưa gửi đơn. Đến thời điểm hiện nay con cái đã lớn, ông đi làm bảo vệ ít về nhà do mệt mỏi, buồn chán, quan hệ hôn nhân giữa ông và bà V không còn hạnh phúc nữa nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn.

Ông và bà V có 02 con chung đều đã trưởng thành tên Trần Khánh H, sinh ngày 22/10/1995 và Trần Khánh H1, sinh ngày 09/3/2000.

Tài sản chung ông và bà V tự thỏa thuận, nợ chung không có.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 12/3/2024, ông Trần Công C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Huỳnh Thị V, ông C và bà V chung sống với nhau vào năm 1994, không đăng ký kết hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là bà V cư trú tại số A C, tổ A, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn là bà Huỳnh Thị V đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa (bà V trực tiếp nhận các văn bản tố tụng nêu trên) nhưng vẫn không đến Tòa án, do đó Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên Tòa vắng mặt bà V theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ vợ chồng: Xét yêu cầu của ông C là được ly hôn với bà V, Hội đồng xét xử xét ông C và bà V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1994 nhưng không đăng ký kết hôn, vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không được xem là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ Điểm b Khoản 3 của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ban hành ngày 09/6/2000 và các Điều 9, Điều 14 và Khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông C và bà V.

Về con chung: Ông C và bà V có 02 con chung đều đã trưởng thành tên Trần Khánh H, sinh ngày 22/10/1995 và Trần Khánh H1, sinh ngày 09/3/2000 nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Ông C trình bày tài sản chung ông và bà V tự thỏa thuận, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông C trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc ông Trần Công C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 9, Điều 14 và Khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội;
  • - Căn cứ Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật thi hành án dân sự năm 2008;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Công C và bà Huỳnh Thị V.
  2. Về con chung: Ông C và bà V có 02 con chung đều đã trưởng thành tên Trần Khánh H, sinh ngày 22/10/1995 và Trần Khánh H1, sinh ngày 09/3/2000.
  3. Về tài sản chung: Ông C và bà V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông C trình bày không có.
  5. Về án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc ông Trần Công C phải chịu là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) ông C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0015142 ngày 26/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 998/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 998/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger