Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 998/2024/HS-PT

Ngày: 14/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhã

Các Thẩm phán: Ông Trần Đức Hiếu

Ông Hoàng Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 824/2024/TLPT-HS ngày 26/9/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HSST ngày 17/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Thanh D; sinh năm 1992; giới tính: nữ: ĐKHKTT: cụm I, phố V, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Đ và bà Nguyễn Thị L; có chồng và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2014 bị Công an quận T xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến nay; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo khác; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h25 ngày 02/4/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý công an quận B trong khi làm nhiệm vụ tại phố Đ, phường C, quận B, Hà Nội phát hiện anh Triệu Thế Đ1 (Sinh năm: 2002; Nơi thường trú: Xóm D, xã H, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình) điều khiển xe Honda Wave BKS 29X5 - 9608 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện túi nilong màu đỏ đang treo ở xe của anh Đ1 có 01 hộp giấy màu trắng, bên trong có một hộp nhựa màu trắng, trong hộp nhựa có 01 túi nilong màu trắng chứa 03 viên nén màu xám và 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Anh Đ1 trình bày anh là nhân viên giao hàng ứng dụng “Be”, túi hàng anh nhận của một người đàn ông ở số A ngõ A đường K H, Hà Nội sử dụng số điện thoại 0385.601.xxx để giao cho một người có số điện thoại 0847.278.xxx.

Ngày 03/4/2024, cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải anh Đ1 chỉ địa điểm nhận đơn hàng, phát hiện Đào Xuân T là người đưa túi hàng cho anh Đ1. T khai ma tuý trong túi hàng thuê anh Đ1 đi giao là của Nguyễn Thị Thanh D. Khi cơ quan điều tra dẫn giải T chỉ nơi ở của D ở cụm I V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội, D đã chỉ nơi cất giấu ma tuý tại cột điện trước cửa nhà D. Cơ quan Công an thu giữ:

Thu giữ của anh Triệu Thế Đ1:

01 túi nilong màu đỏ, 01 hộp giấy màu trắng bên trong có 01 hộp nhựa màu trắng kích thước (7x8x9) cm bên trong có 01 túi nilong màu trắng kích thước 5x8cm chứa 3 viên nén màu xám và 01 túi nilong màu trắng kích thước 3x3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 xe Honda Wave màu trắng BKS 29X5 – 9608, 01 điện thoại di động iphone X màu đen lắp sim thê bao số 0866544041 và 01 điện thoại di động Redmi màu xanh lăp sim thuê bao số 0989781202.

Thu giữ của Đào Xuân T:

01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu xanh - vàng, lắp sim thuê bao số 0862931159 và 0385601723, 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xs màu vàng, lắp sim thuê bao số 0862871990, 01 hộp giấy màu trắng và 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng, kích thước (7x8x9) cm

Thu giữ của Nguyễn Thị Thanh D:

01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 promax màu xám, lắp sim thuê bao số 0972361992, 01 hộp giấy màu trắng, 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng, kích thước (7x8x9) cm; 01 hộp giấy màu nâu, kích thước (20x20x13) cm bên ngoài có dán tem của công ty S, mã đơn hàng 240223BNMS6G09; 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa các viên nén màu xám.

Kết luận giám định số 2654 ngày 13/4/2024 của Phòng K công an T6 kết luận:

  • Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng là ma tuý Ketamine, khối lượng 0,606gam; 03 viên nén màu xanh là ma tuý MDMA, tổng khối lượng 1,284gam (thu giữ của anh Triệu Thế Đ1).
  • Các viên nén màu xám trong 01 túi nilong đều là ma tuý MDMA, tổng khối lượng 23, 944gam (thu giữa của Nguyễn Thị Thanh D)

Quá trình điều tra xác định:

Qua mối quan hệ xã hội, Nguyễn Thị Thanh D quen biết đối tượng tên “T1” (không xác định được nhân thân lai lịch) và Đào Xuân T từ khoảng giữa tháng 9/2023. Đến khoảng cuối tháng 3/2024, D nảy sinh ý định mua ma tuý về bán kiếm lời nên đã liên hệ với đối tượng tên “T2” (không xác định được nhân thân lai lịch) qua T3 hỏi mua ma tuý Ketamine và thuốc lắc thì được đối tượng giao đến nhà cho D ở Cụm I, V, xã V, T, Hà Nội 01 túi ketamine và 02 túi thuốc lắc với giá 8.000.000đồng. Đồng thời D nói với “T1” về việc D bán ma tuý, 01 viên ma tuý kẹo giá 250.000đồng, 01 chỉ ke giá 2.000.000đồng, nếu có ai mua “Trâm” tự báo giá để ăn chênh lệch, chỉ cần nhắn số lượng, địa chỉ, điện thoại của người mua cho D để D chuyển ma tuý. Còn đối với Đào Văn T4, D thuê T4 đi giao ma tuý cho D mỗi lần D sẽ trả công cho T4 200.000 đồng – 300.000đồng.

Khoảng 23 giờ ngày 01/4/2024, D lấy túi ma tuý Ketamine và 01 túi thuốc lắc đang cất giấu ở trong nhà ra để ở vào phía sau hộp công tơ điện trên cột điện trước cửa nhà D rồi nhắn tin cho T4 qua T3 bảo T4 đi đến cột điện lấy ma túy, khi nào có khách mua ma túy, D sẽ nhắn tin qua ứng dụng Telegram để T4 đóng gói và giao cho khách. Ngay sau đó, theo hướng dẫn của D, T4 đã lấy ma tuý của D mang về nhà cất giấu. Trưa ngày hôm sau, D mang nốt 01 túi thuốc lắc còn lại ra cột điện cất giấu.

Đến khoảng 14h ngày 02/4/2024, D nhận được tin nhắn qua telegram từ tài khoản “Trâm Trâm” của “T1” nhắn tin đến tài khoản “6789” của D bảo D giao ma tuý đến số I Đ, số lượng nửa chỉ Ketamine và 3 viên kẹo, số điện thoại của người mua ma tuý là 0847278716. Diệu đồng ý báo giá 1.750.000đồng. Ngay sau đó, D nhắn tin đến tài khoản Telegram của Đào Xuân T (D lưu là 4.0) bảo T giao đơn ma tuý trên. Sau khi nhận được tin nhắn của D, T lấy 03 viên ma túy thuốc lắc và nửa chỉ ma túy Ketamine cất giấu vào bên trong một hộp nhựa màu trắng đựng mỹ phẩm. Sau đó, T cho hộp nhựa vào bên trong một hộp giấy màu trắng rồi để vào 01 túi ni lông màu đỏ. Đóng gói ma túy xong, T sử dụng ứng dụng Be đặt đơn giao hàng từ địa chỉ số A ngõ A K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội đến Số I Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Anh Triệu Thế Đ1 là nhân viên giao hàng đã đến khu vực số A ngõ A K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội gặp và nhận túi ni lông màu đỏ bên trong có hộp nhựa chứa ma túy từ Trần Xuân Thái. Sau đó, Đ1 mang theo túi đồ đi đến khu vực Ngõ I Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội thì dừng xe đứng đợi và liên hệ với người nhận thì bị lực lượng Công an phát hiện kiểm tra thu giữ vật chứng. Đến trưa ngày 03/4/2024, khi cơ quan điều tra dẫn giải anh Đ1 chỉ địa điểm nhận gói hàng của T, T đã vứt toàn bộ số ma tuý nhận của D vào bồn cầu, xả nước nên cơ quan điều tra không thu giữ được ma tuý khi thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của T.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thanh D và Đào Xuân T khai nhận hành vi của mình như trên.

Đối với đối tượng “Thịnh” đã bán ma túy cho D, Do D không biết nhân thân lai lịch của đối tượng, chỉ liên lạc với đối tượng qua T3 và không nhớ tên tài khoản Telegram nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh. Đối với đối tượng “Trâm” sử dụng tài tài khoản Telegram “Trâm Trâm”. Cơ quan điều tra xác minh tại Cục P và thông tin điện tử - Bộ T7 xác định: Telegram là nền tảng tin nhắn, gọi điện, chia sẻ hình ảnh, âm thanh...qua mạng intenet, nền tảng này được vận hành bởi công ty nước ngoài và không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam, chưa thông báo thông tin liên hệ tại Việt Nam Theo chính sách của Telegram các thông tin của người sử dụng đều được mã hoá và bảo mật... . Xác minh số điện thoại 0847.278.xxx

xác định người đứng tên đăng ký thuê bao là anh Lê Phú H (Sinh năm: 1974; Nơi thường trú: P, L, Hà Nam). Anh H trình bày, anh không đăng ký, không sử dụng và không biết ai sử dụng số điên thoại trên. Do vậy cơ quan điều tra không xác minh được đối tượng “Trâm”.

Đối với anh Triệu Thế Đ1 là người giao hàng không biết trong gói hàng nhận của T có ma tuý nên cơ quan điều tra không xử lý. Cơ quan điều tra xác minh xe máy Honda Wave alpha màu trắng BKS 29X5 – 9608 thu giữ của anh D1 xác định xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Người đứng tên đăng ký xe là ông Nguyễn Lương T5 (Sinh năm: 1957; Nơi thường trú: Tập thể trường N, phường V, quận H, thành phố Hà Nội). Xác minh tại Công an phường V không xác định được ông Nguyễn Lương T5). Anh Triệu Thế Đ1 trình bày mua xe của một người đàn ông ở T, Hà Nội vào khoảng năm 2021 với giá 9 triệu đồng, không viết giấy mua bán, chỉ giao tiền và nhận xe cùng đăng ký xe. Ngày 24/6/2024, cơ quan điều tra đã đăng tin trên báo A.VN tìm chủ sở hữu của chiếc xe nhưng chưa có kết quả.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2024/HSST ngày 17/8/2024, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị Thanh D 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/4/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 01 bị cáo khác; quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/8/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thanh D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyễn Thị Thanh D giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết. Bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện gia đình có hoàn cảnh khó khăn, một mình nuôi con nhỏ.
  • Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.

Có đủ căn cứ quy kết bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu mới thể hiện gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải. Vì vậy, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo, xử phạt bị cáo từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Thanh D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ được tóm tắt nêu trên, bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt Nguyễn Thị Thanh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, một mình nuôi con nhỏ nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu, toàn bộ số ma túy chưa bị phát tán, tại phiên tòa phúc thẩm tiếp tục thành khẩn khai báo, thái độ ăn ăn, hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải một mình nuôi con. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[3] Bị cáo được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Thị Thanh D 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/4/2024.

2. Căn cứ Điều 136, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. Hà Nội;
  • - TAND quận Bắc Từ Liêm;
  • - VKSND quận Bắc Từ Liêm;
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA; VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Nhã

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 998/2024/HS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 998/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh D - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger