Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 998/2024/DS-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

V/v: “T/c Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Viễn

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Quốc Hà

bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: ông Phan Gia Hưng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 313/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024; về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 487/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 574/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D; chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1)

Đại diện theo pháp luật của công ty: ông Lê Ngọc T; chức vụ: Tổng giám đốc

Là người đại diện theo pháp luật của Công ty S1 theo giấy phép chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0302847233, đăng ký thay đổi lần thứ 27 ngày 12/10/2022.

Đại diện Ngân hàng TMCP S theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 về việc khởi kiện các hồ sơ liên quan đến Thẻ tín dụng và Tín dụng tiêu dùng; địa chỉ nhận thông báo: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty S1: bà Nguyễn Vũ Khánh C; chức vụ: Phó Tổng Giám đốc; (Giấy ủy quyền số: 775/2023/GUQ-TGĐ ngày 13/9/2023); ông Trần Đức T1, sinh năm 1984; chức vụ: Nhân viên Công ty S1 (Giấy ủy quyền số: 4196/2023/UQ-TGĐ ngày 05/12/2023), (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: ông Lâm Minh V, sinh năm 1985; địa chỉ: 3 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 3 năm 2024, bản tự khai, các lần làm việc tại Tòa án và các bản sao kê, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S do ông Lê Ngọc T và ông Trần Đức T1 là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 12/03/2020, ông Lâm Minh V có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.6%/ tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 32.395.659 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông V phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 5.000.000 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/10/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 34.708.567 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Tính đến ngày 30/09/2024, ông V còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 99.637.686 đ (chín mươi chín triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn sáu trăm tám mươi sáu đồng); trong đó bao gồm: nợ gốc là 34.708.567 đồng, lãi quá hạn là 64.929.119 đồng. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 34.708.567 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/ tháng (2.6%* 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông V, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên:

Buộc ông V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/09/2024 là tổng số tiền là 99.637.686 đ (chín mươi chín triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn sáu trăm tám mươi sáu đồng); trong đó bao gồm: nợ gốc là 34.708.567 đồng, lãi quá hạn là 64.929.119 đồng.

Ông V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ ông V đến Tòa án tham gia tố tụng, nhưng ông V không đến, nên Tòa án không ghi được lời khai của ông V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có kiến nghị về thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Ngân hàng TMCP S đã ký kết Hợp đồng tín dụng với ông Lâm Minh V theo như nội dung vụ án đã trình bày, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: ông Lâm Minh V phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngày 12 tháng 3 năm 2020, ông Lâm Minh V có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng). Do đó, có cơ sở xác định giữa ông V và Ngân hàng có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản như quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do ông V không trả tiền vay nên Ngân hàng khởi kiện; quan hệ tranh chấp này là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông V có nơi cư trú cuối cùng tại quận G, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập ông V tới Tòa án để giải quyết vụ án. Do ông V không tới Tòa theo triệu tập của Tòa án, nên Tòa án không ghi được lời khai của ông V và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông V không tới tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông V.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông V phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2024 là 99.637.686 đ (chín mươi chín triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn sáu trăm tám mươi sáu đồng); trong đó bao gồm: nợ gốc là 34.708.567 đồng, lãi quá hạn là 64.929.119 đồng.

Buộc ông V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tô chức, .. thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay tài sản mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng được thực hiện theo thỏa thuận; Hội đồng xét xử xét lãi suất của Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật, nhận thấy yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thống nhất:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông V phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2024 là 99.637.686 đ (chín mươi chín triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn sáu trăm tám mươi sáu đồng); trong đó bao gồm: nợ gốc là 34.708.567 đồng, lãi quá hạn là 64.929.119 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2024, ông V còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền còn nợ theo Hợp đồng tại thời điểm thanh toán cho đến khi thanh toán hết nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Lâm Minh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.981.884 đ (bốn triệu chín trăm tám mươi mốt ngàn tám trăm tám mươi bốn đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn lại số tiền 2.143.510 đ (hai triệu một trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm mười đồng) cho Ngân hàng TMCP S mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0012956 ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 150, Điều 203, Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự số năm 2015.
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Áp dụng pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

    Buộc ông Lâm Minh V phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2024 là 99.637.686 đ (chín mươi chín triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn sáu trăm tám mươi sáu đồng); trong đó bao gồm: nợ gốc là 34.708.567 đồng, lãi quá hạn là 64.929.119 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2024, ông V còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền còn nợ theo Hợp đồng tại thời điểm thanh toán cho đến khi thanh toán hết nợ.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lâm Minh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.981.884 đ (bốn triệu chín trăm tám mươi mốt ngàn tám trăm tám mươi bốn đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn lại số tiền 2.143.510 đ (hai triệu một trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm mười đồng) cho Ngân hàng TMCP S mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0012956 ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND q. GV
  • - THA DS q. GV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên, đóng dấu)

Hoàng Thế Viễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 998/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 998/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông V do vi phạm hợp đồng tín dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger