|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 997/2024/HS-PT
Ngày 14 - 11 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đinh Quốc Trí |
| Các Thẩm phán: | Ông Mai Văn Quang |
| Ông Nguyễn Đăng Phong. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 905/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Lê Văn V, Kiều Văn G, Lê Đoàn A, Trương Xuân H, Nguyễn Đắc H1, Nguyễn Thị Thu H2 do có kháng cáo của các bị cáo trên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 87/2024/HSST ngày 10/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây
Bị cáo có kháng cáo:
-
Lê Văn V, sinh năm 1979; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã S, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn C (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H3 (đã chết); Vợ: Phùng Thị M; Con: Có 2 con. Con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- Bản án số 07/2005/HSST ngày 02/3/2005 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”.
- Bản án số 36/2015/HSST ngày 27/5/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” (bị cáo đã chấp hành án hình sự và thi hành án phần dân sự xong).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/5/2024 được tại ngoại; có mặt.
-
Kiều Văn G, sinh năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12 (Hiện không biết đọc, không biết viết chữ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Kiều Văn T; Con bà: Nguyễn Thị H4; Vợ: Nguyễn Thị M1; Con: Có 2 con. Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- Bản án số 798/2019/HSPT ngày 02/8/2016 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phúc thẩm 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Bản án số 53/2019/HSST ngày 29/7/2019 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/5/2024 được tại ngoại; có mặt.
-
Lê Đoàn A, sinh năm 1979; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã K, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn Đ (đã chết); Con bà: Đặng Thị T1 (đã chết); Vợ: Vương Thị H5 (đã ly hôn); Con: Có 3 con. Con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- Bản án số 33/2005/HSST ngày 01/6/2005, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Đánh bạc”.
- Bản án số 93/2020/HSST ngày 08/12/2020, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”.
- Ngày 12/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện B, thành phố Hà Nội ra Quyết định số 01 đình chỉ điều tra bị can về tội đánh bạc (trước đó bị khởi tố bị can theo Quyết định số 78 ngày 25/3/2008 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/05/2024 được tại ngoại; có mặt.
-
Trương Xuân H, sinh năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trương Văn Q; Con bà: Dương Thị N; Vợ: Bùi Thị H6; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 107/2015/HSPT ngày 03/4/2015, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 14 năm tù về tội “Giết người” (chưa được xóa án tích). Nhân thân:
- Ngày 01/5/2012, Công an phường X, thị xã S xử phạt: 750.000 đồng về hành vi vi phạm trật tự công cộng theo quy định tại Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/05/2024 được tại ngoại; có mặt.
-
Nguyễn Đắc H1, sinh năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đắc T2; Con bà: Nguyễn Thị M1; Vợ: Đỗ Thị Thu T3 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 107/2015/HSPT ngày 03/4/2015, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 16 năm tù giam về tội “Giết người” (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/05/2024 được tại ngoại; có mặt.
-
Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1971; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn M, xã Y, huyện B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Viết S; Con bà: Cấn Thị H7; Chồng: Lâm Kim H8; Con: Có 02 con; Con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1998; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 05/10/2023, Công an thị xã S xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021. Nhân thân:
- Bản án số 91/2015/HSST ngày 29/9/2015, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/05/2024 được tại ngoại; có mặt.
Trong vụ án còn có các bị cáo khác không kháng cáo và không bị kháng nghị, tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/02/2024, Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 1961, HKTT: thôn V, xã S, thị xã S, hiện ở khu cổng B Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội liên lạc với Bùi Văn A1, trú tại: thôn T, xã C, để bàn bạc tổ chức xới bạc cho người khác đánh bạc, được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Xóc đĩa” tại khu vực đồi cây thuộc Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam, xã C, thị xã S nhằm thu “tiền phế”. Đ1 và Văn A1 thống nhất với nhau, ai có mối quan hệ quen biết thì tự gọi người đó đến đánh bạc. Về tiền thu phế, cả hai thống nhất sẽ thu mỗi người đến đánh bạc số tiền 300.000 đồng, Đ1 là người trực tiếp thu tiền phế rồi giao lại cho Văn Al quản lý số tiền này. Về công cụ, phương tiện phục vụ việc đánh bạc sẽ do Đ1 chuẩn bị. Về người xóc cái, cả hai chưa bàn cụ thể nhưng thống nhất chỉ thuê người thân thiết của 2 người đến làm “xóc cái”.
Khoảng 08 giờ 00 ngày 21/02/2024, Đ1 chọn khu vực đất trống nằm giữa vườn cây, cách sau nhà Đ1 khoảng 200 mét để làm nơi đánh bạc. Đồng thời, Đ1 gọi điện cho Lê Văn L, sinh năm 1969, trú tại: Thôn T, xã S, thị xã S đến làm bảo vệ hoặc “hồ lỳ” phục vụ xới bạc. Sau đó, Đ1 gọi điện tiếp cho Văn Al bảo Văn Al mang ghế nhựa đến nhà Đ1 cho khách ngồi chơi đánh bạc. Văn A1 lấy từ nhà mình 19 chiếc ghế nhựa loại thấp, gồm 10 chiếc ghế màu xanh và 09 chiếc ghế mà đỏ, xếp thành chồng rồi mang đến nhà Đ1. Khoảng 11 giờ cùng ngày thấy Văn A1 đến thì Đ1 liền mang ra địa điểm đánh bạc và đặt ghế nhựa lên trên thảm vải màu đen đã trải sẵn dưới nền đất để cho người khác đến ngồi đánh bạc.
Khoảng 12 giờ ngày 21/02/2024, Đ1 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H9, sinh năm 1995, trú tại: Thôn V, xã S, thị xã S (con trai của Đ1): “Hôm nay bố mở xới trong làng Văn hóa, con có rảnh không vào xóc cái cho bố; con có còn tiền đấy không”. H9 trả lời: “Con chỉ còn mấy triệu thôi”. Đ1 nói: “Thế có mấy triệu đấy cứ bỏ ra để xóc cái, sau được thua thì về bố đưa cho, khi nào đánh xong bố trả cho 500.000 đồng”. H9 nghe vậy thì đồng ý ngay. Do không có xe nên H9 gọi cho Nguyễn Văn L1, sinh năm 1994, trú tại: Thôn V, xã S, thị xã S để đi nhờ. L1 đã đến đón Nguyễn Văn H9 đến khu vực Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, khi đến đây L1 mới biết mục đích của H9 để tham gia đánh bạc.
Sau khi chuẩn bị xong, Đ1 và Văn A1 ngồi uống nước và cùng lấy điện thoại để gọi điện thoại rủ mọi người đến đánh bạc. Trong đó, Đ1 gọi điện cho Tạ Tiến H10, sinh năm 1978, trú tại: thôn T, xã C, thị xã S; Lê Văn V, sinh năm 1979, trú tại: thôn T, xã S, thị xã S; Ngô Quốc C1, sinh năm 1985, trú tại: thôn T, xã S, thị xã S; Lê Đoàn A, sinh năm 1979, trú tại: thôn K, xã K, thị xã S đến nhà mình đánh bạc. Bùi Văn A1 gọi điện cho Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1971, trú tại: thôn M, xã Y, huyện B rủ H2 đến nhà Đ1 đánh bạc, H2 liền đồng ý và tự di chuyển đến khu vực Làng V các dân tộc Việt Nam để đánh bạc.
Khoảng 13 giờ 00 ngày 21/2/2024, Lê Văn V đang ngồi uống cà phê tại khu vực thôn T, xã C, thị xã S cùng với Trịnh Tiến P, sinh năm 1983 và Kiều Văn G, sinh năm 1984 cùng trú tại: thôn T, xã C, thị xã S thì nhận được cuộc gọi của Đ1 rủ đến nhà mình đánh bạc. Trong lúc này, V có nói với G và P là lát V sẽ đi vào Làng văn hóa để chơi, sau đó V về trước. Khi này, G nói với P cùng nhau đi đến khu vực Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam để xem nhóm anh V đánh bạc ở đâu thì 2 người này sẽ tham gia đánh bạc cùng. Rồi P đứng ra đường vẫy, gọi một người chạy xe ôm ngang qua để di chuyển đến khu vực Làng văn hóa. Khi trên đường di chuyển hướng vào khu vực trung tâm của L2 văn hóa vừa đi qua nhà ông Nguyễn Xuân Đ1, thấy ông Đ1 đứng ngay trước cửa nhà dùng tay vẫy và gọi. Thấy thế P hiểu ngay là ông Đ1 gọi, rủ mình vào nhà ông Đ1 để đánh bạc nên P liền trả tiền xe ôm hết 50.000 đồng và cùng với G đi bộ đi theo Đ1 đến địa điểm đánh bạc.
Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, L muốn gọi thêm người đến đánh bạc tại xới bạc của Đ1 nên gọi điện rủ Đỗ Thị S1, sinh năm: 1973, trú tại: thôn T, xã S, thị xã S đến đánh bạc, S1 liền đồng ý và xin đi cùng L. Do L, V, S1 gần nhà nhau nên lúc này L ra đường và gọi ô tô taxi đi đón V, S1 rồi di chuyển đến nhà Đ1.
Trong lúc ngồi đợi người chơi bạc đến đông đủ, Đ1 mở chiếc hòm kim loại chuẩn bị từ trước, lấy ra 01 chiếc bát, 01 chiếc đĩa, 01 bộ bài gồm 55 quân bài để xuống chiếu bạc. Đồng thời, Đ1 lấy 02 quân bài 9 tép và 7 tép từ bộ bài khác, dùng dụng cụ bấm ra từ quân 9 tép và 7 tép mỗi quần bài thành 2 quân vị đều có dạng hình tròn nhỏ, một mặt màu xanh mặt còn lại màu trắng, xong để 04 quân vị này lên mặt chiếc đĩa để phục vụ mục đích đánh bạc.
Khoảng 14 giờ cùng ngày thì lần lượt có Tạ Tiến H10, Lê Văn L, Lê Văn V, Đỗ Thị S1, Kiều Văn G, Trịnh Tiến P đến chiếu bạc và ngồi vào các vị trí khác nhau nói chuyện phiếm, chờ H9 đến xóc cái để đánh bạc. Khoảng 20 phút sau, Nguyễn Văn H9 đến thì Đ1 bảo H9 vào xóc cái, do cả hai đã bàn bạc trước nên H9 ngồi ngay vào vị trí ở giữa đầu chiếu bạc và cầm bộ bát đĩa úp vào nhau và thực hiện việc xóc cái.
Về cách thức đánh bạc dưới hình thức chơi “xóc đĩa”, cụ thể:
Người xóc cái đặt 04 quân vị đều có một mặt màu trắng và mặt còn lại màu xanh lên mặt chiếc đĩa, úp chiếc bát lên trên rồi sóc, sau đó đặt xuống chiếu bạc. Những người chơi tự đặt tiền cược xuống hai bên của người sóc cái: bên phải là mặt chẵn; bên trái là mặt lẻ. Sau khi đã đặt xong tiền thì người xóc cái sẽ mở bát và có kết quả dưới các hình thức gồm:
- Nếu 04 quân vị cùng một màu hoặc 2 quân vị màu xanh, 2 quân vị màu trắng thì kết quả ván bạc đó về chẵn. Khi này những người đặt cửa chẵn sẽ thắng cược với số tiền đúng bằng số tiền họ đã đặt cược; còn những người đặt cửa lẻ sẽ bị thua toàn bộ số tiền họ đã đặt cược;
- Nếu 03 quân vị cùng một màu, 1 quân vị còn lại khác màu thì kết quả ván bạc đó về lẻ. Khi này những người đặt cửa L3 sẽ thắng cược với số tiền đúng bằng số tiền họ đã đặt cược; còn những người đặt cửa chẵn sẽ bị thua toàn bộ số tiền họ đã đặt cược;
- Kết quả là tiền thắng, thua trong các ván bạc thì tỷ lệ sát phạt đều là 1:1; tức: Số tiền thắng, thua của người chơi đều đúng bằng số tiền họ đã đặt cược.
Ngoài ra, trong quá trình đánh bạc thì còn có các cách thức cược khác, gồm: Bán chẵn, bán lẻ, cụ thể: Sau khi mọi người đặt tiền xuống các mặt chẵn, lẻ xong thì người xóc cái hô: “cái cân”, mọi người không ai được đặt tiền nữa. Lúc này, nếu người xóc cái thích “Kết quả là chẵn” thì sẽ hô “Bán mặt chẵn”, tức là: Giành toàn bộ số tiền đang đặt cược dưới mặt chẵn cho những người chơi tự nhận rồi tính được, thua với số tiền cược tại mặt chẵn này; Còn người xóc cái sẽ chịu trách nhiệm thắng, thua với số tiền cược tại mặt lẻ. Những người chơi nếu có ai thích kết quả là “về lẻ” thì họ sẽ hô lên: “đắt”, có nghĩa là: Khi này người đó sẽ chịu trách nhiệm thắng, thua đối với toàn bộ số tiền đã đặt cược tại mặt chẵn. Khi người xóc cái mở bát nếu kết quả về chẵn thì người xóc cái sẽ thắng toàn bộ số tiền bên mặt lẻ; còn người vừa “mua chẵn” sẽ trả toàn bộ tiền cho những người đặt cược bên mặt chẵn và ngược lại. Và cách thức khi “mua, bán lẻ” cũng tương tự như “mua, bán chẵn” vừa nêu. Ngoài việc người xóc cái thực hiện việc “mua, bán chẵn, lẻ” thì khi những người chơi khác muốn đánh bạc dưới hình thức này; thì họ cũng hô lên như người xóc cái và thực hiện việc đánh bạc dưới hình thức này với những người chơi bạc khác.
Trong các cách thức “mua, bán chẵn, lẻ” này thì tỷ lệ sát phạt đều là 1:1; tức: Số tiền thắng, thua của người chơi đều đúng bằng số tiền họ đã đặt cược.
Về tiền đặt cược: Tuy không có bàn bạc cụ thể, nhưng H9 cùng thống nhất, đồng ý với những người chơi: Giới hạn tối thiếu bằng tiền mà một người chơi đặt cược trong một ván bạc là 100.000 đồng; còn tối đa thì không giới hạn.
Trong quá trình chơi, Đ1 sử dụng kết quả của các ván bạc do H9 xóc cái để trực tiếp đánh bạc với những người khác qua hình thức “chơi vị”. Đ1 lấy tiếp 04 (bốn) quân bài (từ bộ bài tú lơ khơ cất trong hòm kim loại), gồm: 3 tép, 4 tép; 3 cơ, 4 cơ. Sau đó, Đ1 xếp 04 quân bài này ở bốn vị trí khác nhau thành ô, dưới chiếu bạc ngay trước mặt mình, với quy ước đặt cược đánh bạc là:
- 04 quân bài tú lơ khơ, gồm: 3 tép, 4 tép; 3 cơ, 4 cơ đại diện cho các cửa đặt cược là: 3 tép - 3 thâm (3 quân vị cùng có mặt màu xanh); 4 tép - 4 thâm (4 quân vị cùng có mặt màu xanh); 3 cơ - 3 trắng (3 quân vị cùng có mặt màu trắng), 4 cơ - 4 trắng (4 quân vị cùng có mặt màu trắng);
- Việc đặt cược với hình thức “chơi vị” này Đ1 quy ước với những người chơi tỷ lệ được, thua; cụ thể là: 3 thâm thì đặt 1 ăn 3; 4 thâm thì đặt 1 ăn 10; 3 trắng thì đặt 1 ăn 3; 4 trắng thì đặt 1 ăn 10;
Khoảng 3 - 4 ván bạc đầu tiên, H9 xóc cái rồi tự giao, nhận tiền thắng, thua của hai cửa chẵn, lẻ. Khi thấy những người chơi đã đặt cược nhiều tiền hơn, thì Lê Văn L ngồi cuối chiếu bạc (đối diện H9) tự nhặt tiền từ cửa thua trả cho cửa thắng. Nguyễn Xuân Đ1 cùng Bùi Văn A1 là những người tổ chức đánh bạc, vì đã có thống nhất từ trước, nên khi thấy L thực hiện hành động tự giao, nhận tiền như thế thì cũng đồng ý.
Khoảng 30 phút sau, Đ1 tiến hành thu tiền phế 300.000 đồng của mỗi người chơi: Tạ Tiến H10, Trịnh Tiến P, Kiều Văn G, Ngô Quốc C1, Lê Văn V; riêng Đỗ Thị S1 vì đang thua nên thiếu tiền, không còn đủ 300.000 đồng để nộp tiền phế, nên S1 để nộp trước 100.000 đồng, Đ1 không phản đối gì mà đi đến từng chỗ cầm lấy số tiền phế.
Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, các bị cáo Lê Đoàn A, Trương Xuân H và Nguyễn Đắc H1 đang uống nước ở khu bệnh viện Q1, thì bị cáo Lê Đoàn A nhận được điện thoại của bị cáo Nguyễn Xuân Đ1 gọi, rủ đến đánh bạc, cả 03 bị cáo đều đồng ý thuê 01 chiếc xe ô tô taxi để cả 3 cùng đi đến địa điểm đánh bạc; Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày các bị cáo đến tham gia đánh gồm: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H2; Lê Đoàn A, Trương Xuân H, Nguyễn Đắc H1. Bị cáo Đ1 đều thu tiền phế của những người này, mỗi người 300.000 đồng; Bị cáo Đ1 đưa cho bị cáo Bùi Văn A1 2.800.000 đồng tiền thu phế.
Quá trình thực hiện hành vi “xóc cái”, bị cáo H9 còn thực hiện việc đánh bạc với những người khác dưới hình thức: “bán chẵn, bán lẻ” trong khoảng 20 ván bạc và bị cáo Đ1 đã đánh bạc với những người chơi khác thông qua hình thức “mua chẵn, mua lẻ” với số tiền thắng, thua trong một ván bạc khoảng 10 ván bạc.
Đến 16 giờ 50 phút ngày 21/2/2024, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an thị xã S phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ tang vật, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa 12 đối tượng, người liên quan về trụ sở Công an thị xã S để làm rõ hành vi phạm tội, gồm: Nguyễn Xuân Đ1, Bùi Văn A1, Lê Văn V, Ngô Quốc C1, Trịnh Tiến P, Kiều Văn G, Lê Đoàn A, Trương Xuân H, Nguyễn Đắc H1, Nguyễn Thị Thu H2, Đỗ Thị S1 và Nguyễn Văn L1. Quá trình bắt giữ, Nguyễn Văn H9, Lê Văn L và Tạ Tiến H10 bỏ trốn.
Về vật chứng:
- Tổng số tiền: 17.169.000 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi chín nghìn đồng). Trong đó: 8.300.000 đồng trên chiếu bạc và 8.869.000 thu trên người các đối tượng.
- 01 chiếc bát (miệng bát dạng tròn, đường kính khoảng 11cm, cao khoảng 07cm; phía ngoài có in hoa văn), 01 đĩa sứ (dạng tròn, đường kính khoảng 15cm, mặt đĩa có in hoa văn), trên mặt đĩa có: 04 quân vị dạng tròn nhỏ, đường kính khoảng 03cm, một mặt màu trắng mặt còn lại màu xanh; 01 bộ bài tú lơ khơ với 55 quân bài; 01 thảm vải màu đen kích thước (4,8x2)m; 01 ca nhựa đựng nước màu xanh.
- Tổng số 19 ghế nhựa, gồm: 10 chiếc ghế màu xanh, 09 chiếc ghế màu đỏ.
- 01 hộp kim loại (bằng tôn) màu ghi xám, kích thước: (27x18x12)cm, phía ngoài có khóa, bên trong có: 02 chiếc bát, 02 chiếc đĩa (cùng chung đặc điểm: miệng bát dạng tròn, đường kính khoảng 11cm, cao khoảng 07cm; phía ngoài có in hoa văn; đĩa sứ: Dạng tròn, đường kính khoảng 15cm, mặt đĩa có in hoa văn); 03 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ có 48 quân bài, 01 bộ bài chắn; 01 chiếc kéo nhỏ; 01 chiếc kéo bấm chỉ; 01 dụng cụ dùng để cắt quân vị; 01 túi nilong bên trong đựng các sợi dây chun nhỏ, dạng tròn, màu vàng;
- 01 chiếc ví giả da bên trong có: 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H9, sinh năm: 1995, trú tại: thôn V, xã S, thị xã S, thành phố Hà Nội cùng số tiền: 44.000 đồng (Bốn mươi bốn nghìn đồng);
- Tổng số 12 điện thoại di động các loại.
Xác định số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc như sau: Bị cáo V mang theo khoảng 4.000.000 đồng để đánh bạc và quá trình đánh bạc. Trước thời điểm, khi lực lượng Công an bắt giữ khoảng 15 phút, anh Lê Văn V vì cần tiền đánh bạc nên quay sang thỏa thuận đổi tiền với H10, thì H10 đồng ý. Sau đó, V sử dụng tài khoản số: 45110000689752 tại ngân hàng B của mình chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản số: 2203205339605 tại Ngân hàng A2 của H10 thì được H10 đưa lại số tiền 10.000.000 đồng. V đã thực hiện tổng cộng 03 (ba) lần việc chuyển khoản tiền qua lại với: Văn H9, Tạ Tiến H10 đều là tiền phục vụ mục đích đánh bạc, với tổng số tiền là: 15.000.000 đồng. Khi bị công an bắt bị cáo Lê Văn V có khoảng 7.000.000 đồng tiền mặt và tiền trong tài khoản có 5.000.000 đồng, khi bị băt V bỏ chạy đã đánh rơi số tiền 7.000.000 đồng và 01 điện thoại di động, tổng số tiền V sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.000.000 đồng. Kiều Văn G 580.000 đồng. Nguyễn Thị Thu H2 1.000.000 đồng; Trương Xuân H 1.020.000 đồng. Nguyễn Đắc H1 4.000.000 đồng. Lê Đoàn A 1.500.000 đồng.
Tổng số tiền thu giữ là 17.169.000 đồng, trong đó có: Số tiền: 8.300.000 đồng trên chiếu bạc; Số tiền: 8.869.000 đồng qua kiểm tra, khám người (8.255.000 đồng sử dụng đánh bạc và 614.000 đồng không sử dụng đánh bạc, gồm: Đ1 có 50.000 đồng; Văn A1 có 500.000 đồng; H có 20.000 đồng; H9 có 44.000 đồng là tiền không sử dụng để đánh bạc). Tại chiếu bạc số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là: 16.555.000 đồng;
Do vậy, tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Văn V, Kiều Văn G, Lê Đoàn A, Trương Xuân H, Nguyễn Đắc H1, Nguyễn Thị Thu H2 về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Đoàn A, Nguyễn Đắc H1 có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Xét việc rút đơn kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với hai bị cáo. Phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lê Đoàn A và Nguyễn Đắc H1 có hiệu lực pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Văn V, Kiều Văn G, Trương Xuân H, Nguyễn Thị Thu H2, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân xấu. Trong đó bị cáo H2 có 01 tiền án đã được xóa, 01 tiền sự chưa hết thời hiệu về tội cùng loại. Bị cáo V, G đều có 02 tiền án về tội cùng loại. Bị cáo H có 01 tiền án về tội Giết người chưa được xóa án tích. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đã cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc H1 06 tháng tù; Nguyễn Thị Thu H2 06 tháng tù; Lê Đoàn A 06 tháng tù là chưa nghiêm và không công bằng với các bị cáo khác trong vụ án. Tuy nhiên, để không làm xấu đi tình trạng của người kháng cáo, tòa án cấp phúc thẩm không xem xét tăng hình phạt đối với các bị cáo này nhưng tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Các bị cáo Lê Văn V, Kiều Văn G, Nguyễn Thị Thu H2 phải nộp án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Các bị cáo Lê Đoàn A, Nguyễn Đắc H1 có đơn rút kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- [1]. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Đoàn A, Nguyễn Đắc H1. Phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số: 87/2024/HSST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đối với bị cáo Lê Đoàn A, Nguyễn Đắc H1 có hiệu lực pháp luật.
- [2]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn V, Kiều Văn G, Trương Xuân H, Nguyễn Thị Thu H2 giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn V, Kiều Văn G, Trương Xuân H, Nguyễn Thị Thu H2 phạm tội Đánh bạc.
- [3]. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trương Xuân H: 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/5/2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- [4] Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Văn V: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/5/2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- [5]. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Kiều Văn G: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/5/2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- [6]. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Thu H2: 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 20/5/2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- [7]. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Lê Văn V, Kiều Văn G, Trương Xuân H, Nguyễn Thị Thu H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐINH QUỐC TRÍ |
Bản án số 997/2024/HS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 997/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
