|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 994/2024/HS-PT
Ngày 24 tháng 10 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười
Ông Vũ Đức Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 602/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Phan Thanh Tấn H và các bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn H1 và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Văn H1.
Giới tính: Nam. Sinh năm 1970, tại tỉnh Bến Tre. Nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Chỗ ở hiện nay: 1 A, Phường I, Quận E, Thành Phố Hồ Chí Minh. Ở trọ trước khi bị bắt: 230/6/1/6A phường B, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: lớp 12/12. Nghề nghiệp: kinh doanh. Con ông Lê Minh H2, sinh năm 1922 (đã chết) và bà Tôn Thị H3, sinh năm 1930 (đã chết). Gia đình có bốn anh em, bị cáo là thứ tư và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam ngày 15/7/2020 theo Lệnh số 1246/CSKT(Đ4) ngày 09/7/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt
Bị cáo liên quan đến kháng cáo:
2. Phan Thanh Tấn H.
Giới tính: Nam. Sinh năm 1980, tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: 78/4 KP2, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: R đường V, KP7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: lớp 12/12. Nghề nghiệp: kinh doanh. Con ông Phan Thanh H4, sinh năm 1952 và bà Phan Thị D, sinh năm 1956 (đã chết). Gia đình có bốn chị em, bị cáo là thứ ba, có vợ tên Nguyễn Thị H5, sinh năm 1980 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam ngày 15/7/2020 theo Lệnh số 1248/CSKT(Đ4) ngày 09/7/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt
3. Vũ Thế D1.
Giới tính: Nam. Sinh năm 1978, tại tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký thường trú: 55/275, KP4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: như trên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: lớp 12/12. Nghề nghiệp: kinh doanh. Con ông Vũ Mạnh Đ, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Hà Thị H6, sinh năm 1952. Gia đình có ba anh em, bị cáo là thứ hai, có vợ tên Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1985 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam ngày 15/7/2020 theo Lệnh số 1247/CSKT(Đ4) ngày 09/7/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt
- Người bào chữa cho các bị cáo H, H1, D1: Luật sư Lê Thị Quỳnh A, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt
- Bị hại: Công ty TNHH Đ2.
Địa chỉ: 9 Â, phường T, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá Đ1, sinh năm 1976.
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Bà Trần Thị Ngọc H7, sinh năm 1997. Có mặt
Địa chỉ: C Đ, phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Nguyễn Bá K1 – Luật sư của Công ty L1 và T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Vắng mặt
Địa chỉ: B D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Xuân K2, sinh năm 1980.
Địa chỉ: E P, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
2. Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số R đường V, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt
3. Ông Phạm Quang C, sinh năm 1981.
Địa chỉ: B chung cư N, Phường C, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
4. Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1982 - Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần P2 - chi nhánh B. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
Địa chỉ: P chung cư V, Phường I, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
5. Ông Phạm Văn P, sinh năm 1955.
Địa chỉ: A đường số E, phường B, quận B, TP .. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/01/2016, ông Phạm Văn P - Giám đốc Công ty TNHH S ký Hợp đồng số 18/2016/HĐNV-XHH với ông Đỗ Đức T2 - phó Cục trưởng Cục H8 để thực hiện dự án xã hội hóa, nạo vét duy tu tuyến luồng hàng hải sông T (từ KM31+500 đến cách thượng lưu cảng M 500m) với khối lượng 3.180.302m3. Vốn đầu tư do Công ty S tự huy động khoảng 90.875.327.831đ (Chín mươi tỷ, tám trăm bảy mươi lăm triệu, ba trăm hai mươi bảy nghìn, tám trăm ba mươi mốt đồng), sản phẩm nạo vét được tận thu để bù đắp các chi phí, không sử dụng ngân sách Nhà nước.
Sau khi ký hợp đồng với Cục H8, Công ty S đã triển khai thực hiện dự án từ ngày 15/12/2016, đến ngày 31/3/2017 thì tạm dừng do Cảng vụ hàng hải M có Công văn số 224/CVHHMT-AT ngày 31/3/2017 về việc yêu cầu tạm dừng thi công nạo vét nhằm để kiểm tra điều chỉnh (theo chỉ đạo của Bộ G tại Công văn số 156/BGTVT-KCHT ngày 09/5/2017) và ngày 02/6/2017 Cục H8 gửi Công văn số 2123/CHHVN-QLKCHTCB yêu cầu Công ty S tạm dừng thi công dự án để rà soát, tính toán lại khối lượng dự án.
Tuy dự án đã tạm dừng thi công từ tháng 4/2017, chưa được cơ quan chức năng cho phép tiếp tục thực hiện, nhưng ngày 12/10/2017 ông Phạm Văn P - Giám đốc Công ty S và Lê Văn H1 - Giám đốc Công ty TNHH D2 (Sở KHĐT Thành Phố H cấp Giấy chứng nhận ĐKDN số 0313853599 ngày 09/6/2016; trụ sở tại: 1 A, phường I, quận E, TP Hồ Chí Minh) vẫn ký Hợp đồng liên danh số 86/HĐLD/2017 và ngày 03/4/2018 ký Hợp đồng kinh tế số 19/2018/HĐKT/ĐPT-GK về việc Công ty S bán cho Công ty D2 sản phẩm tận thu tại công trình nạo vét của Công ty S trên sông T.
Ngày 10/8/2018, Lê Văn H1 ký Hợp đồng số 02/2018/HĐKT/TP-GK, bán toàn bộ khối lượng sản phẩm tận thu được tại công trình nạo vét trên sông T cho Công ty
T3 do Vũ Thế D1 làm giám đốc. Sau đó, ngày 22/7/2019, Lê Văn H1 và Vũ Thế D1 ký Hợp đồng kinh tế số 05/2019/HĐKT/GK-TP, về việc hợp tác nạo vét và mua bán sản phẩm tận thu tại công trình nạo vét duy tu tuyến luồng hàng hải đoạn từ Km31+500 đến cách thượng lưu Cảng M 500m, với nội dung thỏa thuận “Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty T3 sẽ đặt cọc cho Công ty D2 số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) để bảo đảm thực hiện hợp đồng”, nhưng D1 vẫn chưa có tiền đặt cọc cho H1.
Ngày 03/10/2019, Vũ Thế D1 ký kết Hợp đồng liên danh số 09/2019/HĐLD/TP-MĐ với Công ty TNHH M1 do Phan Thanh Tấn H làm giám đốc, với nội dung thỏa thuận “Hai bên liên danh với nhau để cùng nhau hợp tác, thi công nạo vét Dự án xã hội hóa sông T đoạn từ Km31+500 đến cách thượng lưu Cảng M 500m. Công ty M1 sẽ đại diện cho liên danh tham gia đàm phán và ký kết hợp đồng mua bán cát tận thu tại dự án. Công ty M1 thay mặt Liên danh nhận tiền tạm ứng và làm công tác bảo lãnh hoàn tạm ứng cho nhà thầu theo quy định về bảo lãnh ngân hàng”.
Do dự án đang tiến hành rà soát theo Nghị định số 159/2018/NĐ-CP ngày 28/11/2018 của Chính phủ, và chưa được cho phép tiếp tục thực hiện, nên các hợp đồng mua bán cát mà Lê Văn H1, Vũ Thế D1 và Phan Thanh Tấn H đã ký kết như trên không thực hiện được. Tuy nhiên, D1 và H đã bàn bạc và thống nhất tìm một công ty đối tác để ký hợp đồng mua bán cát để nhận tiền tạm ứng từ công ty đối tác. Thông qua Nguyễn Xuân K2, sinh năm 1980, thường trú tại số E P, phường F, quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh giới thiệu, ngày 14/10/2019 Phan Thanh Tấn H đại diện Liên danh Công ty M1 – Công ty T3 ký kết Hợp đồng mua bán cát số 39/2019/HĐKT/TP-NV, với Công ty Đ2 do ông Nguyễn Bá Đ1 làm giám đốc và để cho ông Đ1 tin tưởng ký kết hợp đồng và chuyển tiền tạm ứng 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng), D1 và H thỏa thuận cam kết với ông Đ1 trong vòng 30 ngày sẽ có giấy phép khai thác mỏ cát, và Liên danh sẽ đề nghị ngân hàng phát hành Bảo lãnh hoàn tạm ứng số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) cho Công ty Đ2, nên ngày 15/10/2019, Phan Thanh Tấn H tiếp tục ký Phụ lục hợp đồng số 01.39/2019/HĐKT/TP-NV với ông Nguyễn Bá Đ1, về việc Công ty Đ2 tạm ứng cho Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 (Hai tỷ đồng).
Ngày 17/10/2019, Ngân hàng O - Chi nhánh B cung cấp Bảo lãnh hoàn tạm ứng số 012194 cho Công ty Đ2 với số tiền bảo lãnh tối đa là 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) để bảo lãnh cho nghĩa vụ hoàn trả tiền tạm ứng của Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 đối với Công ty Đ2 và ngày 18/10/2019, ông Nguyễn Bá Đ1 - Giám đốc Công ty Đ2 đã ủy nhiệm chi số tiền tạm ứng 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng) vào tài khoản số 0120100099996666 của Công ty M1 mở tại Ngân hàng O - Chi nhánh B. Trong ngày 18/10/2019, Ngân hàng O đã phong tỏa số tiền tạm ứng 02 tỷ đồng chuyển vào tài khoản ký quỹ số 0120140000148008 của Công ty M1 mở tại OCB nhằm đảm bảo cho việc phát hành thư bảo lãnh theo đề nghị của Công ty M1. Chỉ khi nào Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 cung cấp hồ sơ chứng từ hợp lệ thì Ngân hàng O mới chấp nhận giải tỏa tiền tạm ứng.
Ngay sau khi ký hợp đồng với Công ty Đ2. H và D1 đã liên hệ với Phạm Quang C (Giám đốc Quan hệ khách hàng Ngân hàng O - Chi nhánh B) để làm thủ tục giải tỏa tiền tạm ứng thì Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 cần phải cung cấp Hợp đồng mua bán cát với một công ty cung cấp cát đầu vào, kèm theo Hóa đơn giá trị gia tăng. Do đó, để rút chiếm đoạt số tiền tạm ứng 02 tỷ đồng, D1, H và H1 bàn bạc thống nhất lập khống Hợp đồng mua bán cát giữa Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 với Công ty D2, và xuất khống Hóa đơn GTGT, thì Liên danh mới có lý do đề nghị Ngân hàng O giải tỏa tiền tạm ứng để thanh toán cho Công ty D2.
Sau khi bàn bạc, thống nhất xong thì D1 soạn thảo hợp đồng khống (Hợp đồng mua bán cát số 02/2019/HĐKT/LDMĐ.TP-GK ngày 03/10/2019 giữa Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 và Công ty D2 - Bút lục số 256-260) với nội dung “Ngay sau khi hợp đồng này được ký kết, trong vòng 45 ngày, Liên danh sẽ tạm ứng cho Công ty D2 số tiền là 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng)”. Ngày 18/10/2019, D1 và H mang hợp đồng khống đến văn phòng Công ty D2 tại địa chỉ B M, KP6, phường B, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh để H1 và H ký tên, đóng dấu Công ty D2 và Công ty M1.
Ngày 19/10/2019, H sử dụng hợp đồng khống để đề nghị Ngân hàng O giải tỏa 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) để Liên danh thanh toán tiền tạm ứng mua cát cho Công ty D2. Sau khi OCB chấp nhận giải tỏa, ngày 21/10/2019 H làm Ủy nhiệm chi chuyển số tiền 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) vào tài khoản số [...] của Công ty D2 mở tại Ngân hàng S1 - PGD Văn Lang.
Ngày 21/10/2019, H, D1, H1 cùng đến Ngân hàng S1 - PGD Văn Lang để rút chiếm đoạt 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng), nhưng chỉ rút được 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng). D1 yêu cầu H1 đưa hết cho D1 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng) để D1 chiếm đoạt 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) và H chiếm đoạt 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Còn 900.000.000₫ (Chín trăm triệu đồng) còn lại trong tài khoản Công ty D2, H1 chiếm đoạt và sử dụng hết.
Để ngân hàng O giải tỏa tiếp số tiền tạm ứng còn lại, ngày 21/10/2019, Lê Văn H1 xuất khống cho Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 hóa đơn giá trị gia tăng số 0000010, nội dung hóa đơn do H ghi, thể hiện Công ty D2 xuất bán cho Liên danh 77.200m3 cát, số tiền thanh toán là 2.161.638.600đ (Hai tỷ, một trăm sáu mươi mốt triệu, sáu trăm ba tám nghìn, sáu trăm đồng).
Ngày 23/10/2019, H sử dụng hóa đơn khống để đề nghị Ngân hàng O giải tỏa số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) để Liên danh thanh toán tiền mua cát cho Công ty D2. Sau khi OCB chấp nhận giải tỏa, ngày 23/10/2019, H làm ủy nhiệm chi chuyển số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Công ty D2. Còn lại số tiền tạm ứng 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) H chưa đề
nghị giải tỏa để bảo lãnh hoàn tạm ứng cho Công ty Đ2 vẫn còn hiệu lực thì ông Đ1 mới không biết tiền tạm ứng đã bị rút ra chiếm đoạt.
Ngày 23/10/2019, H yêu cầu H1 đến Ngân hàng S1 - P3 rút tiền 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), sau đó chuyển cho H vào tài khoản số 0014100009384003 của Nguyễn Thị H5 (vợ H) mở tại Ngân hàng O - Chi nhánh Đ3. Để sử dụng số tiền 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), H yêu cầu H5 chuyển tiền vào tài khoản của H số 0121000340623 mở tại Ngân hàng V1 - Chi nhánh B1.
Sau khi bảo lãnh hoàn tạm ứng hết hạn vào ngày 15/11/2019, thì ngày 19/11/2019 Ngân hàng O đã giải chấp số tiền tạm ứng còn lại 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) từ tài khoản ký quỹ vào tài khoản thanh toán của Công ty M1. Như vậy, Ngân hàng O đã giải tỏa hết số tiền tạm ứng 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) của ông Đ1.
Hết hạn 30 ngày nhưng Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 vẫn chưa thực hiện được hợp đồng mua bán cát với Công ty Đ2 (chưa có giấy phép khai thác cát), D1 và H tiếp tục cam kết với ông Đ1 trong vòng 20 ngày nữa sẽ có giấy phép khai thác cát. Do đó, ông Đ1 yêu cầu Liên danh cấp bảo lãnh hoàn tạm ứng mới cho Công ty Đ2 vì lúc này ông Đ1 chưa biết số tiền tạm ứng 02 tỷ đồng của Công ty Đ2 đã bị giải tỏa và D1, H, H1 đã rút ra để chiếm đoạt sử dụng.
Để làm chứng thư bảo lãnh mới cho Công ty Đ2, H đã nhờ Nguyễn Hữu P1, tự giới thiệu là Chủ tịch HĐQT Công ty CP T4, có Văn phòng đại diện tại: 1 P, phường A, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh. P1 nói có tiền gửi tại Ngân hàng B2 - Chi nhánh P4 và có thể làm được bảo lãnh hoàn tạm ứng nên đề nghị H mở tài khoản Công ty M1 tại ngân hàng này. Do đó, ngày 29/11/2019, Liên danh Công ty M1 - Công ty T3 và Công ty Đ2 ký Phụ lục hợp đồng số 02.39/2019/HĐKT/TP-NV, về việc thay đổi số tài khoản 0120100099996666 của Công ty M1 tại Ngân hàng O - Chi nhánh B, thành số tài khoản 31510001159857 tại Ngân hàng B2 - Chi nhánh P4, và phát hành chứng thư bảo lãnh hoàn tạm ứng mới cấp cho Công ty Đ2 có hiệu lực 20 ngày kể từ ngày phát hành chứng thư. P1 yêu cầu H trả chi phí làm bảo lãnh là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Sau khi H chuyển đủ 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) vào tài khoản số 0602.3288.3068 (mở tại Ngân hàng S1 - Chi nhánh B3, đứng tên Nguyễn Trần Thùy V) do P1 cung cấp, ngày 04/12/2019 P1 cho người chạy xe honda chở khách (xe ôm) mang Bảo lãnh hoàn tạm ứng số 132 ngày 04/12/2019 do Ngân hàng B2 - Chi nhánh P4 phát hành đến giao tận nhà ông Đ1. Khi ông Đ1 đem giấy bảo lãnh hoàn tạm ứng ra Ngân hàng B2 - Chi nhánh P4 để kiểm tra thì phát hiện bảo lãnh hoàn tạm ứng giả. Ngày 20/12/2019, Công ty Đ2 có văn bản đề nghị Công ty M1 hoàn trả tiền tạm ứng 02 tỷ đồng, nhưng H không trả, nên ông Đ1 làm đơn tố cáo.
Ngày 24/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án hình sự và ngày 07/7/2020 khởi tố các bị can Lê Văn H1, Vũ Thế D1 và Phan Thanh Tấn H để điều tra xử lý. Quá trình điều tra, các bị cáo H1, D1, H đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 4436/CT-VKS-P2 ngày 11/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Phan Thanh Tấn H, Lê Văn H1 và Vũ Thế D1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Lê Văn H1 13 (Mười ba) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Phan Thanh Tấn H 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày15/7/2020.
Xử phạt bị cáo: Vũ Thế D1 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 10/01/2022 bị cáo Phan Thanh Tấn H, Lê Văn H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 24/01/2022 bị hại có đơn kháng cáo đề nghị hủy Bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố đối với vai trò của nhân viên ngân hàng Oi nhánh B trong quy trình giúp các bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền 02 tỷ đồng.
Ngày 25/01/2022, bị cáo Phan Thanh Tấn H có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 489/2022/HS-PT ngày 25 tháng 7 năm 2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Giao hồ sơ lại cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai để điều tra lại vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 290/CT-VKS-P2 ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Phan Thanh Tấn H, Lê Văn H1 và Vũ Thế D1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Lê Văn H1 13 (Mười ba) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Phan Thanh Tấn H 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
Xử phạt bị cáo: Vũ Thế D1 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Phan Thanh Tấn H, Vũ Thế D1 không kháng cáo.
Ngày 04/6/2024, bị cáo Lê Văn H1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án 13 năm tù đối với bị cáo là quá nặng.
Ngày 10/6/2024, bị hại là Công ty TNHH Đ2 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Quá trình điều tra lại đã xác định rõ việc ngân hàng O – Chi nhánh B thực hiện không đúng quy định trong việc giải tỏa số tiền bảo lãnh mà trách nhiệm này thuộc về ông Phạm Quang C, ông Nguyễn Đức T1, bà Trần Thị Hồng L nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không xem xét trách nhiệm của Ngân hàng O và các cá nhân này là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để điều tra làm rõ hành vi và vai trò của các nhân viên ngân hàng O – Chi nhánh B trong quá trình các bị cáo chiếm đoạt 2 tỷ đồng của bị hại và xem xét trách nhiệm của ngân hàng O.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như án sơ thẩm quy kết.
Bị cáo Lê Văn H1 xin rút yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án 13 năm tù là đã phù hợp.
Đại diện bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm vì bỏ lọt tội phạm và chưa xem xét trách nhiệm của Ngân hàng O – Chi nhánh B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ và được xét hỏi công khai tại phiên tòa thì có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn H1 xin rút kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo H1.
Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để xem xét vai trò của các cán bộ ngân hàng O và trách nhiệm của ngân hàng O: Quá trình điều tra lại và trên cơ sở kết luận giám định thì những sai phạm của các cán bộ ngân hàng O không cấu thành tội phạm và cũng không chứng minh được các cán bộ này đồng phạm với các bị cáo vì vậy không có căn cứ hủy án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Thống nhất quan điềm với kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội: Các bị cáo biết rõ Dự án xã hội hóa nạo vét, duy tu tuyến luồng hàng hải sông T chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện trở lại, nhưng để thực hiện chiếm đoạt tài sản, bị cáo Phan Thanh Tấn H và bị cáo Vũ Thế D1 đã bàn bạc, thỏa thuận thực hiện hành vi gian dối là ký hợp đồng mua bán cát với ông Nguyễn Bá Đ1 – Giám đốc Công ty Đ2 và yêu cầu ông Đ1 tạm ứng số tiền 02 tỷ đồng chuyển vào tài khoản Công ty M1 mở tại Ngân hàng O – Chi nhánh B và phong tỏa lại để đảm bảo cho hợp đồng mua bán cát giữa Liên danh Công ty M1 (bị cáo H làm Giám đốc) – Công ty T3 (bị cáo D1 làm Giám đốc) với Công ty Đ2 (ông Đ1 làm Giám đốc). Công ty M1 làm đại diện Liên danh Công ty M1 – Công ty T3. Sau khi Công ty Đ2 tạm ứng số tiền 02 tỷ đồng để mở Thư bảo lãnh. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền nói trên; bị cáo H, bị cáo D1 và bị cáo H1 đã thực hiện hành vi gian dối là lập khống hợp đồng và xuất khống hóa đơn giá trị gia tăng với nội dung là Liên danh Công ty M1 – Công ty T3 mua bán cát với Công ty D2, để thực hiện hợp đồng bán cát cho Công ty Đ2. Sau đó bị cáo H, bị cáo D1, bị cáo H1 sử dụng hợp đồng khống và hóa đơn giá trị gia tăng khống này để hợp thức hóa chứng từ, thủ tục để chứng minh cho Ngân hàng O - Chi nhánh B là Liên danh Công ty M1 – Công ty T3 đang thực hiện hợp đồng với Công ty Đ2 để Ngân hàng giải tỏa số tiền 02 tỷ đồng cho Liên danh do Công ty M1 làm đại diện. Tiếp đến, bị cáo H, bị cáo
D1, bị cáo H1 rút tiền được giải tỏa để chiếm đoạt. Bằng phương thức thủ đoạn này, các bị can đã cố ý cùng chiếm đoạt sử dụng hết số tiền 02 tỷ đồng của Công ty Đ2. Trong đó bị cáo H đã chiếm đoạt số tiền 750 triệu đồng, bị cáo D1 chiếm đoạt số tiền 350 triệu đồng và bị cáo H1 chiếm đoạt số tiền 900 triệu đồng.
[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn H1 tự nguyên xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn H1.
[5] Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, thấy rằng: Sau khi Bản án sơ thẩm số 04/2022/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2022 bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ CHí Minh hủy để điều tra lại, xem xét trách nhiệm của Ngân hàng O cũng như trách nhiệm của các cá nhân trong việc giải tỏa số tiền 2 tỷ đồng của Công ty Đ2 thì các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã trưng cầu giám định tư pháp về tài chính. Tại Kết luận giám định số 09/KLGĐ-ĐNA.TTGS ngày 29/5/2023 của Giám định viên tư pháp – Ngân hàng Nhà nước tỉnh Đ, kết luận việc Ngân hàng O - Chi nhánh B đồng ý giải tỏa số tiền 1.950.000.000 đồng theo đề nghị của Công ty M1 vào ngày 19/10/2019 và ngày 23/10/2019 là không đúng quy trình bảo lãnh hoàn tiền tạm ứng quy định tại khoản a Điều 3 Phụ lục 03 ban hành kèm theo Quyết định số 507/2015/QĐ-TGĐ ngày 06/11/2015 của Tổng Giám đốc O v/v ban hành sản phẩm bảo lãnh ngân hàng và chưa thực hiện đúng trách nhiệm quyền của bên bảo lãnh quy định tại khoản 7 Điều 27 Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về bảo lãnh ngân hàng; vi phạm cam kết bảo lãnh với Công ty Đ2. Tuy nhiên, căn cứ khoản 14, khoản 18 Điều 4; Điều 126 và Điều 127 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đồi, bổ sung năm 2017) thì bảo lãnh ngân hàng là hoạt động cấp tín dụng và đối tượng mà Ngân hàng O – chi nhánh B cấp tín dụng (Công ty M1) không thuộc trường hợp đối tượng không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng. Do đó, vụ việc không có dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” quy định tại Điều 206 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Việc giải toả tiền tạm ứng không đúng của Ngân hàng O - Chi nhánh B là vi phạm về cam kết bảo lãnh với Công ty Đ2, việc giải quyết vi phạm bảo lãnh do Công ty Đ2 và Ngân hàng O - Chi nhánh B thực hiện theo quy định của pháp luật về tranh chấp hợp đồng kinh tế.
[6] Quá trình điều tra lại cũng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh các ông Phạm Quang C, Nguyễn Đức T1 có hành vi bàn bạc với các bị cáo H, H1 và D1 trong việc lập không các hợp đồng, hóa đơn để đề nghị Ngân hàng O - Chi nhánh B giải tỏa rồi chiếm đoạt số tiền 1.950.000.000 đồng của Công ty Đ2. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại.
Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị cáo Lê Văn H1 và bị hại Công ty Đ2, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của bị cáo, bị hại là có căn cứ được chấp nhận.
[8] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[9] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo H1 phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo luật định. Các bị cáo H, D1 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm
[10] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 345 Bộ luật Tố Tụng hình sự:
Chấp nhận việc rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn H1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn H1.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo hủy Bản án sơ thẩm của bị hại Công ty TNHH Đ2.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai như sau:
1. Tuyên bố các bị cáo Phan Thanh Tấn H, Lê Văn H1 và Vũ Thế D1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Lê Văn H1 13 (Mười ba) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Phan Thanh Tấn H 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
Xử phạt bị cáo: Vũ Thế D1 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020.
2. Các bị cáo Phan Thanh Tấn H, Vũ Thế D1, Lê Văn H1 không phải tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |
Bản án số 994/2024/HS-PT ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 994/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn H1 kháng cáo bản án số 91/2024/HS-ST ngày 28/5/2024
