|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 992/2024/HNGĐ-ST
Ngày 06-8-2024
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Phước Trinh
- Ông Thái Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ chí Minh: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sở thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 64/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 376/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc A, sinh năm 1989.(Xin vắng mặt)Địa chỉ: Số F, Đường F, Tổ C, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1978.(vắng mặt)Đia chỉ: Số F, Đường F, Tổ C, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn xin ly hôn ngày 25/12/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Nguyên đơn bà Trần Ngọc A trình bày:Bà và ông T chung sống có Giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 02/11/2009 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Trong quá trình chung sống, ông bà không hòa hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, cả hai đều cố gắng hàn gắn hạnh phúc nhưng mục đích của cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông T.Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 16/10/2004 và Nguyễn Hoàn P, sinh ngày 25/10/2009 bà đồng ý giao 02 con chung ông T tiếp tục nuôi dưỡng, bà trợ cấp 1.000.000 (Một triệu) đồng/ 01 tháng cho con Nguyễn Hoàn P.Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Bị đơn ông T vắng mặt không có lý
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp cũng như tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; Việc xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều từ 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại các Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã gửi cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về nội dung: Sau khi phân tích, nhận định đánh giá tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu theo đơn khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Căn cứ đơn khởi kiện của bà Trần Ngọc A yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, thuộc trường hợp "Ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Thanh T cư trú tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.[2] Về tố tụng: Việc vắng mặt của ông Nguyễn Thanh T, Tòa án đã triệu tập, xác minh nơi cư trú và thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Đồng thời, ngày 16/7/2024, bà có Đơn xin xét vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Trần Ngọc A và ông Nguyễn Thanh T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. [3] Về quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông T có đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 02/11/2009 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp nên hôn nhân giữa ông bà A và ông T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy việc bà A yêu cầu ly hôn với ông T vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Ông Nguyễn Thanh T vắng mặt không có lý do chính đáng là tự bỏ quyền chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của A theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.[4] Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 16/10/2004 và Nguyễn Hoàn P, sinh ngày 25/10/2009 bà A đồng ý giao 02 con chung ông T tiếp tục nuôi dưỡng, bà trợ cấp 1.000.000 (Một triệu) đồng/ 01 tháng cho con Nguyễn Hoàn P. Xét thấy, việc ông T vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến và sự tự nguyện của bà A không trái với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và ghi nhận sự tự nguyện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con và cấp dưỡng nuôi con của bà A.[5] Về tài sản chung: Bà A xác nhận không có. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác. [6] Về nợ chung: Bà A xác nhận không có. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.Xét việc đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.[7] Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con bà A phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điểu 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần .
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc A được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 02/11/2009 do Ủy ban dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 16/10/2004 và Nguyễn Hoàn P, sinh ngày 25/10/2009 cho ông Nguyễn Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng,
- - Về cấp dưỡng bà Trần Ngọc A trợ cấp 1.000.000 (Một triệu) đồng/ 01 tháng cho con Nguyễn Hoàn P cho đến khi trưởng thành, Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bên không trực tiếp nuôi con.
- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung: Bà Trần Ngọc A xác nhận không có. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
- - Về nợ chung: Bà Trần Ngọc A xác nhận không có. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
- Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Trần Ngọc A chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0019142 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Ngọc A phải nộp thêm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Liêm |
Bản án số 992/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 992/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc A ly hôn với Nguyễn Thanh T
