|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 991/2024/HS-PT Ngày: 23 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên
Bà Bùi Thị Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai phiên tòa trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 694/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức Thiên T do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức Thiên T, sinh năm 1977 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: Áp A, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở trước khi phạm tội: Ấp X, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 6/12; Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 20/3/2022; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1951; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Bị cáo có vợ là Phan Thị Kim H, sinh năm 1978 (là bị hại trong vụ án) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành 20 (hai mươi) tháng tại Quyết định số 25/QĐ-TA. Ngày 02/4/2021 được Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 93/QĐ -TA miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại, ngày 29/4/2021 bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2024 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức Thiên T: Luật sư Nguyễn Quốc H1, Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Quốc H1 - Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
(Ngoài ra trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.)
Người kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức Thiên T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2002, Nguyễn Đức Thiên T chung sống như vợ chồng với chị Phan Thị Kim H tại Khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, cả hai có được 02 con chung là Nguyễn Thiên T1, sinh năm 2005 và Nguyễn Minh T2, sinh năm 2012. Năm 2015, do phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm nên T bỏ đi và ở trọ tại ấp X, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, còn chị T vẫn sinh sống tại phường H, thị xã C và trực tiếp nuôi 02 con nhỏ. Khoảng cuối năm 2023, T đến quán nước của chị H yêu cầu chị H chia 05m đất là tài sản chung vợ chồng (là thửa đất số 196, tờ bản đồ số 25, diện tích 207,3m2 tọa lạc tại Khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước) nhưng chị H không đồng ý nên hai bên cãi nhau, sau đó T bỏ đi về.
Khoảng 11 giờ ngày 09/3/2024, do bực tức việc chị H không chia đất và do T gọi điện thoại hỏi thăm T1 nhưng T1 không nghe máy, nghĩ chị H ngăn cản không cho T thăm gặp con chung và nghi ngờ chị H trước đây có quan hệ tình cảm với người khác nên T lấy 01 con dao Thái Lan dài 24cm bỏ vào cốp xe môtô, lấy 01 con dao rựa dài 62,5cm bỏ tại gác baga xe môtô biển số 76F1-09.663, sau đó điều khiển xe từ huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh lên chỗ chị H bán nước tại Khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước để tìm chị H.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe đến chỗ chị H, nhìn thấy chị H,T lấy con dao Thái Lan trong cốp xe ra cầm trên tay phải, chị H bỏ chạy, T đuổi cầm dao theo chị H, tới nơi T đâm liên tiếp nhiều nhát vào bụng và ngực chị H. Thấy chị H bị đâm thì Nguyễn Minh T2 và một số người dân chạy vào can ngăn nhưng do T đang cầm dao nên không ai can ngăn T được. Ngay sau khi dùng con dao Thái Lan đâm chị H, T bỏ dao xuống đất rồi chạy đến xe mô tô biển số 76F1-09.663 của T lấy 01 con dao rựa đi lại chỗ chị H, lúc này Nguyễn Minh T2 (con đẻ của bị cáo) quỳ xuống đất chắp tay van xin T dừng lại nhưng T vẫn chém liên tiếp vào người chị H làm chị H tử vong tại chỗ. Sau khi gây án, T đi đến Công an phường H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên (các bút lục số 14; 100; 108 – 109; 124 – 125; 128 – 129; 130 – 133; 140 – 141)
Tại Kết luận giám định tử thi số: 291/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận nguyên nhân chết:
“Phan Thị Kim H bị vết thương thấu ngực, bụng gây thủng tim, phổi, gan dẫn đến tử vong” (bút lục số 24 – 25).
Tại Kết luận giám định ADN số: 202/24/KLGÐADN-PYQG ngày 22/3/2024 của V – Bộ Y, kết luận:
- “- Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu 1.1 (con dao rựa), 1.2 (con dao dài 24cm), 1.4 (Dấu vết màu nâu đỏ trên gối phải của Nguyễn Đức Thiên T), 1.5 (quần, áo của Nguyễn Đức Thiên T): Dương tính.”
- “- Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu 1.3 (con dao dài 49cm): Âm tính.”
- “- ADN thu từ mẫu các mẫu 1.1 (con dao rựa), 1.2 (con dao dài 24cm), 1.4 (Dấu vết màu nâu đỏ trên gối phải của Nguyễn Đức Thiên T), 1.5 (quần, áo của Nguyễn Đức Thiên T) trùng khớp hoàn toàn với ADN của Phan Thị Kim H, không trùng với ADN của Nguyễn Đức Thiên T trên tất cả các locus STR đã so sánh.”
- “- Không thu được dữ liệu ADN từ mẫu 1.3 (con dao dài 49cm) trên tất cả các locus STR đã phân tích nên không thể so sánh với ADN của Phan Thị Kim H và Nguyễn Đức Thiên T” (Bút lục 51 – 53).
Tại Kết luận giám định số 315/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- “- Không tìm thấy dấu hiệu bị cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong hai tập tin video gửi giám định ký hiệu A1 và A2.”
- “- Trích xuất được 14 hình ảnh thể hiện diễn biến vụ việc và đánh số thứ tự người N1, N2 và N3 trong hai tập tin video gửi giám định ký hiệu A1 và A2” (bút lục 58 – 59).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Thu của Nguyễn Đức Thiên T:
- + 01 điện thoại di động hiệu “OPPO” A67 màu đen, kiểu máy: CPH2375, bộ nhớ: 128GB, RAM: 6,00GB, điện thoại được gắn 01 sim trên sim có dãy số "8404 2302 1230 2097";
- + 01 áo thun có cổ dài tay màu đen, đường nối cổ áo và thân áo trong phía sau có chữ “XL”; 01 quần lửng vải (dạng kaki) màu nâu-xám, lưng quần trong phía sau có chữ “Nmen. nm, MADE IN VIETNAM”; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen;
- + 01 thẻ Căn cước công dân số [...], cấp ngày 20/3/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, thẻ Căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức Thiên T;
- + Tăm bông thu dấu vết màu nâu đỏ bám dính trên gối phải và 10 sợi tóc (phục vụ giám định hết).
-Thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường:
- + 01 con dao rựa lưỡi dao làm bằng kim loại, dạng một lưỡi sắc, dao dài 62,5cm, lưỡi dao bản rộng 5,20cm, dài 34,5cm, cán bằng gỗ và kim loại, có đường kính lớn nhất là 4,0cm (vị trí số 2);
- + 01 con dao lưỡi bằng kim loại dạng một lưỡi sắc, đầu dao nhọn, dao dài 24,0cm, lưỡi dao dài 12,2cm, bản rộng 2,6cm, cán dao bằng nhựa màu đen (vị trí số 3);
- + 01 con dao dài 49,0cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dạng một lưỡi sắc, bản rộng nhất 6,0cm, cán dao bằng gỗ dài 20,5cm, đường kính 3,0cm (vị trí số 10);
- + 01 chiếc ủng trái bằng cao su màu xanh đế bằng nhựa màu vàng, dưới đế ghi số 42 (vị trí số 6); 01 chiếc ủng phải bằng cao su màu xanh đế bằng nhựa màu vàng, dưới đế ghi số 42 (vị trí số 7);
- + Dấu vết màu nâu đỏ (vị trí số 4); 01 nón vải màu xám cũ (vị trí số 5); 01 khăn kẻ sọc màu đen, trắng một đầu khăn thắt nút, kích thước (78x105)cm (vị trí số 5);
- + 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen - đỏ, biển số 76F1-096.63, số khung: RLCS5C6107Y141409, số máy: 5C61-141409 (vị trí số 9); 01 áo khoác nàu xanh (vị trí số 9); 01 tờ giấy (vị trí số 9).
- Thu trong quá trình khám nghiệm tử thi Phan Thị Kim H: Máu thấm thẻ CC1 (phục vụ giám định hết); Chất bám dính 10 kẽ móng tay; 01 áo vải dài tay màu xanh; 01 quần dài thun màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đại diện hợp pháp của bị hại Phan Thị Kim H không yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức Thiên T bồi thường.
Cáo trạng số 19/CT-VKSBP-P2 ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Đức Thiên T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước, quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Thiên T phạm tội “Giết người”
- Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Thiên T hình phạt “Tử hình”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đức Thiên T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ, bị cáo và bị hại có mâu thuẫn từ trước. Đề nghị xét xử bị cáo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết kháng cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác. Bị cáo và bị hại không có đăng ký kết hôn, đã sống mỗi người một nơi nên không còn có ràng buộc về tình cảm, do đó mâu thuẫn mà người bào chữa nêu không phải là lỗi của bị hại. Cấp sơ thẩm đã xét xử đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xét không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Đức Thiên T có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đức Thiên T và chị Phan Thị Kim H chung sống với nhau như vợ chồng đến khoảng năm 2015 phát sinh mâu thuẫn nên T bỏ đi. Khoảng cuối năm 2023, T yêu cầu chị H chia quyền sử dụng đất, chị H không đồng ý dẫn đến cãi cự nhau, trường hợp này bị cáo có thể khởi kiện vụ án dân sự để giải quyết nếu có chứng cứ. Tuy nhiên, bị cáo đã chuẩn bị công cụ phạm tội là dao để thực hiện hành vi tấn công chị H.
Khoảng 11 giờ ngày 09/3/2024, bị cáo đi xe máy đến gặp chị H và đã sử dụng dao Thái Lan và dao rựa là những hung khí nguy hiểm đâm, chém nhiều nhát vào ngực, bụng là những vùng trọng yếu của cơ thể chị H dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, như cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; Bị cáo chuẩn bị công cụ phạm tội, chém liên tiếp nhiều nhát vào người bị hại trước sự chứng kiến của con đẻ bị cáo với bị hại; trước hành vi dã man, tàn bạo của bị cáo thì con của bị cáo là cháu T2 quỳ xuống chắp tay lạy van xin
nhưng bị cáo không buông tha mà tiếp tục ra xe lấy dao dựa chém tiếp bị hại đến khi tử vong. Như vậy, hành vi của bị cáo thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng; nên cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Mặc dù, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nhưng xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo thể hiện bản tính hung hãn, côn đồ, coi thường pháp luật và tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng tâm lý nghiêm trọng đến con đẻ của bị cáo khi chứng kiến sự việc cha giết mẹ đẻ. Cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt loại bỏ vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm là tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của tội phạm; như đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức Thiên T; Giữ nguyên hình phạt của án Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Thiên T phạm tội “Giết người”
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Thiên T hình phạt “Tử hình”.
Căn cứ khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Đức Thiên T để đảm bảo thi hành án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước theo điểm d, khoản 1 Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 23/10/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 991/2024/HS-PT ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người)
- Số bản án: 991/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án
