|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN
Bản án số:99/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 8 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Trọng Thực
Ông Nguyễn Văn Xuân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam Công an tỉnh H tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hạng A S - Sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: H'Mông, Tôn giáo: Không; (Súa thuộc hộ nghèo và sinh sống ở vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn); Trình độ văn hóa: 06/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Hạng N, sinh năm 1964 (Đã chết); Mẹ: Giàng Thị P, Sinh năm 1965 (Đã chết); A, chị, em ruột: có 04 người, bị can là thứ 4; Vợ: Giàng Thị B, sinh năm 1999, nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: có 04 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Chưa có
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024, tạm giam từ ngày 04/6/2024. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
*Người bào chữa cho bị cáo S: Bà Vương Thị Thanh N – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Vắng mặt.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Thị D, sinh năm 1998;
Địa chỉ: Thôn S, xã K, huyện P, tỉnh Sơn La; Vắng mặt.
NỘI DUNG
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hạng A S là đối tượng nghiện các chất ma túy (loại H) và hiện đang thuê phòng trọ tại thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Do không có tiền tiêu sài nên S đã nảy sinh ý định mua ma túy về chia thành nhiều gói nhỏ rồi bán cho các đối tượng nghiện ma túy khác để hưởng lợi.
Khoảng 8 giờ ngày 24/5/2024, S một mình đến khu vực biên giới giữa nước Việt Nam với nước Lào thuộc địa phận xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên gặp một người nam giới quốc tịch Lào không rõ tên, địa chỉ cụ thể rồi hỏi mua 5.000.000 đồng tiền ma tuý thì được 05 chỉ ma túy loại Heroin. Sau đó S mang số ma túy trên về nhà cất giấu. Đến khoảng 06 giờ ngày 28/5/2024, S cất toàn bộ số ma túy trên người rồi đi xe ô tô khách xuống phòng trọ của S ở thôn M, thị trấn N, sau đó chia nhỏ thành nhiều gói và cất giấu trong ống thép chân chiếc quạt cây màu đen trong phòng trọ. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc đi bốc vác thuê S quen biết và đưa chị Vàng A D1 về phòng trọ ở chung với S. Đến khoảng 18 giờ ngày 31/5/2024, S tiếp tục chia số ma túy trên thành 13 gói ma tuý (loại H) để chuẩn bị đi bán. Đến khoảng 00 giờ 18 phút ngày 01/6/2024, S cầm 13 gói ma túy ở tay phải rồi đi bộ một mình đến khu vực đường T, thị trấn N, huyện V để bán ma túy cho các đối tượng nghiện thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) bên trong có 01 gói nilon đựng 13 gói giấy màu trắng (loại giấy kẻ ô ly) bên trong đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu M1) và 01 điện thoại Realme màu trắng vàng bên trong lắp sim số 0385806026.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V khám xét khẩn cấp chỗ ở Hạng A thuê tại thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên thu giữ: 01 mảnh nilon được hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu M2). 01 gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) bên trong có 02 mảnh nilon đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu M3); 01 bật lửa màu đỏ; 01 chiếc kéo bằng kim loại tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 10 mảnh giấy bạc, chưa qua sử dụng; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Hạng A; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu iphone 6 màu trắng, không lắp thẻ sim; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y5s màu xanh trong lắp 01 thẻ sim số 0813120050 và số tiền 1.124.000 đồng.
Ngày 01/6/2024 và ngày 04/6/2024, phòng K Công an tỉnh H có Bản thông báo giám định sơ bộ và bản Kết luận giám định cùng số 385, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1 có tổng khối lượng là 1,291g là ma túy, loại Heroin. Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M2 có tổng khối lượng là 0,362g là ma túy, loại Heroin. Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M3 có tổng khối lượng là 12,810g là ma túy, loại Heroin. H1 lại mẫu vật trong niêm phong ghi số 385/KL-KTHS (MT), bên trong có 14,424g ma tuý, loại Heroin; 01 mảnh giất màu trắng (loại giấy vệ sinh); các mảnh giấy màu trắng (loại giấy kẻ ô ly) và các mảnh nilon màu trắng gói ma túy và 03 vỏ niêm phong. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với S cho kết quả: dương tính với H2.
Đối với vật chứng của vụ án là: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của Phòng K Công an tỉnh H; 01 bật lửa màu đỏ; 01 chiếc kéo bằng kim loại tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 10 mảnh giấy bạc và số tiền 1.124.000 đồng thu của S xác định sử dụng vào mục đích phạm tội. Còn 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu iphone 6 màu trắng, không lắp thẻ sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y5s màu xanh và 01 thẻ sim số 0813120050 xác định là của S không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng những vật chứng trên, còn tiền gửi vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme màu trắng vàng Cơ quan điều tra đã thu giữ quá trình điều tra xác định là điện thoại của chị Vàng Thị D, không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 24/6/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D. Chị D đã nhận lại tài sản và tự nguyện không yêu cầu đề nghị gì.
Ngoài ra S còn khai: Trong khoảng thời gian từ ngày 28/5/2024 đến ngày 31/5/2024, S đã chia nhỏ ma tuý trên thành nhiều gói ma túy nhỏ rồi mang ra khu vực đường thôn M, thị trấn N bán khoảng 15 gói ma tuý với giá 100.000 đồng/01 gói cho khoảng 10 người không rõ tên, địa chỉ cụ thể được số tiền 1.500.000 đồng. Cơ quan Công an huyện V chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ cụ thể của đối tượng mà S đã bán ma túy của S nên tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với chị Vàng Thị D là người ở cùng phòng trọ với S nhưng không biết việc S tàng trữ ma túy để bán nên không có căn cứ để xử lý đối với chị D.
Đối với đối tượng S khai đã bán ma túy cho S tại khu vực biên giới giữa nước Việt Nam với nước Lào thuộc địa phận xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã có công văn đến cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Điện Biên để giải quyết theo thẩm quyền.
Cáo trạng số: 86/CT-VKS-VL ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Hạng A S1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
*Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hạng A S1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hạng A S1 từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 01/6/2024.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết các vấn đề về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp khác và án phí của vụ án.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp khách quan với lời khai của người làm chứng; của Biên bản bắt người phạm tội quả tang; của các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung của Bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu và đã có đủ cơ sở kết luận: “Khoảng 00 giờ 18 phút ngày 01/6/2024, tại khu vực đường T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Hạng A đã có hành vi tàng trữ 16 gói ma túy Heroin có tổng khối lượng 14,463g với mục đích để bán trái phép thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đã truy tố bị cáo Hạng A S1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Chỉ vì thói quen chơi bời, hưởng thụ, lười lao động mà bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy với mục đích để kiếm lời bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, làm hủy hoại sức khỏe, trí lực của con người, phá hoại hạnh phúc, kinh tế gia đình, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh những loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải nghiêm trị đối với bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Có vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và cũng là bài học giáo dục phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, không có nghề nghiệp ổn định, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của Phòng K Công an tỉnh hưng Y; 01 Bật lửa màu đỏ; 01 chiếc kéo bằng kim loại tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc là các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 1.124.000 đồng là tiền của bị cáo S1 xác định mục đích sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với: 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6 màu trắng, không lắp thẻ sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y5s màu xanh; 01 thẻ sim số 0813120050 là tài sản của bị cáo S1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 1.500.000 đồng là khoản tiền bị cáo đã thu được từ việc bán ma túy nên cần truy thu để sung công quỹ Nhà nước.
[5] Tại phiên tòa, quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề cần giải quyết trong vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số và sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khan nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hạng A S1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hạng A S1 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/6/2024.
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của Phòng K Công an tỉnh hưng Y; 01 Bật lửa màu đỏ; 01 chiếc kéo bằng kim loại tay cầm bằng nhựa màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 1.124.000đ (một triệu một trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo S1: 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6 màu trắng, không lắp thẻ sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y5s màu xanh; 01 thẻ sim số 0813120050.
- Truy thu để sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo S1 số tiền: 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng)
[3] Về án phí: Bị cáo Hạng A S1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vụ án được xét xử công khai. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án theo pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Thắng |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nguyễn Văn Kháng | Nguyễn Thị Thắn | Nguyễn Nam Thắng |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hạng A S phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
