Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HSST

Ngày: 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Đặng Viết Hùng
  • + bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP . xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/HSST ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 15/10/2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn Q

- sinh năm: 1966, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; con ông Bùi Văn B (Đã chết) và bà Vũ Thị T; Vợ là: Nguyễn Thị P; Có 03 con: lớn sinh năm: 1991, nhỏ sinh năm: 2006; Tiền án, tiền sự: không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  • + Bà Bùi Thị H – sinh năm: 1943 (Có mặt)
  • + Anh Lê Hữu B1 –sinh năm: 1981 (Có mặt)
  • + Anh Lê Hữu C – sinh năm: 1975 (Có mặt)
  • + Anh Lê Hữu C1 – sinh năm: 1991 (Có mặt)

Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .

Đại diện theo ủy quyền của những người bị hại là anh Lê Hữu C – sinh năm: 1975. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .. (Có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị P – sinh năm: 1971 (Có mặt)

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Thế B2 – sinh năm: 1966 (Vắng mặt)
  • + Bà Trịnh Thị G – sinh năm: 1969 (Vắng mặt)
  • + Ông Lê Quốc T1 – sinh năm: 1972 (Vắng mặt)

Đều địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP ..

  • + Ông Nguyễn Cự Đ – sinh năm: 1966 (Vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Khắc C2 - sinh năm: 1954 (Vắng mặt)
  • + Ông Lê Tiến T2 – sinh năm: 1984 (Vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Thế B3 – sinh năm: 1951 (Vắng mặt)

Đều HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .

  • + Ông Trần Trung T3 – sinh năm: 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện M, TP .

  • + Bà Nguyễn Thị H1 – sinh năm: 1976 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn V, xã L, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 1995, gia đình ông Nguyễn Thế B2 và vợ là bà Trịnh Thị G được Ủy ban nhân dân xã H giao quyền sử dụng đối với diện tích đất tại khu vực xóm A, thôn Đ, H, Ứ, Hà Nội. Khi giao thì ở sát mép thửa đất và ở phía ngoài của thửa đất có 01 nấm mộ của gia đình anh Lê Hữu C. Quá trình gia đình ông B2 sử dụng đất thì có Chi hai, dòng họ Nguyễn T4, ở thôn Đ, xã H đến tìm và xây dựng mộ tổ của chi họ trên thửa đất, đồng thời gia đình anh C đưa hài cốt của bố mẹ anh C và hài cốt của bà Nguyễn Thị Q1 chết năm 1993 là thím của anh C về chôn cất sát với nấm mộ cũ của gia đình và xây dựng thành mộ chung của gia đình trên khu đất ông B2 được giao quản lý, sử dụng; việc gia đình anh C xây dựng tôn tạo khu mộ có xin ý kiến của ông B2 và được ông B2 đồng ý. Đến năm 2009, gia đình ông B2 làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất trên (lúc này đã có 02 ngôi mộ trên đất). Khi làm thủ tục ông B2 và các gia đình có mộ không có yêu cầu, đề nghị gì liên quan đến 02 ngôi mộ. Quá trình giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân xã H đã làm thủ tục niêm yết công khai hồ sơ đề nghị cấp giây chứng nhận đối với thửa đất của gia đình ông B2. Kết thúc việc niêm yết công khai, Ủy ban nhân dân xã không tiếp nhận ý kiến, phản ánh nào liên quan đến thửa đất trên nên Ủy ban nhân dân xã đã làm tờ trình đề nghị Phòng T6 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất trên. Ngày 22/7/2009, Ủy ban nhân dân huyện Ứ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 437588 đối với thửa đất trên là thứa số 05 tờ bản đồ địa chính số 04, địa chỉ: xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, diện tích: 336,0m² (ba trăm ba mươi sáu mét vuông), người sử dụng đất là ông Nguyễn Thế B2 và bà Trịnh Thị G, trên giấy chứng nhận không ghi nhận hiện trạng 02 ngôi mộ.

Đến ngày 18/11/2016, gia đình ông Nguyễn Thế B2 chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất trên cho ông Lê Quốc T1 ở cùng thôn, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Văn phòng C5 (địa chỉ: thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội) chứng thực số 2174/2016 Quyển số 01/SCT/HĐ,GD. Khi mua ông T1 biết rõ trên đất có 02 ngôi mộ nhưng trong hợp đồng chuyển nhượng hai bên không có thỏa thuận gì liên quan đến 02 ngôi mộ trên đất, quá trình chuyển nhượng các gia đình có mộ không có ý kiến thắc mắc, khiếu kiện gì liên quan đến mộ trên đất. Sau đó, ông T1 đã làm thủ tục đăng ký biến động đối với thửa đất trên tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 huyện Ứ. Quá trình ông T1 quản lý, sử dụng đất, đến cuối năm 2017 gia đình anh C và C3 hai, dòng họ Nguyễn T4, đã xây dựng, tôn tạo 02 ngôi mộ trên, trong đó ngôi mộ của gia đình anh C được xây dựng thành 01 ngôi mộ chung gồm 05 ngôi mộ nhỏ (trong đó có mộ của bà Q1) có ngai mộ, bia mộ và bát hương chung. Hai ngôi mộ được xây dựng kiên cố và có tường bao quanh trên diện tích khoảng 30m² (ba mươi mét vuông). Khi xây dựng chính Bùi Văn Q là người chở vật liệu xây dựng cho gia đình anh C.

Ngày 08/6/2020, ông Lê Quốc T1 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho Bùi Văn Q và vợ là bà Nguyễn Thị P theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Văn phòng C5 chứng thực số 1198/2020 Quyển số 01 TP/CC- SCC/HĐ,GD. Trong khi chuyển nhượng hai bên đều xác định, biết rõ về nguồn gốc và hiện trạng của thửa đất, nhưng đều không có thỏa thuận gì liên quan đến các ngôi mộ trên đất, các gia đình có mộ không có ý kiên thắc mắc, khiếu kiện gì liên quan đến mộ trên đất. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, gia đình Q đã làm thủ tục thay đổi thông tin về thửa đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 và được cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 180032 ngày 02/11/2020, thửa đất trên được quy đổi thành thửa đất số 188 tờ bản đồ số 18, diện tích 335,5m2. Đến đầu năm 2021, gia đình Q làm thủ tục tách thửa đối với thửa đất nêu trên thành 03 thửa đất nhỏ hơn và đã được Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gản liền với đất đối với 03 thửa đất gồm thửa đất số 660, 661 va 662 thuộc tờ bản đồ địa chính số 18, trong đó: thửa đất số 662 có diện tích 112,2m2 (một trăm mười hai phẩy hai mét vuông) được chuyển nhượng quyền sử dụng cho ông Nguyễn Văn T5 và vợ là bà Nguyễn Thị L; Thửa đất số 661 có diện tích 108,6m (một trăm linh tám phẩy sáu mét vuông) được giao cho bà Nguyễn Thị P toàn quyền quản lý, sử dụng; Thửa đất số 660, diện tích 114,7m2 thuộc quyền sử dụng chung của Q và bà P theo Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ, chồng lập ngày 18/3/2021 tại Văn phòng C6, số C, quyển số 01/2021 TP/CC- SCC/HĐ-GD giữa Q và bà P. Quá trình làm thủ tục đăng ký biến động và tách thửa gia đình Q không có yêu cầu, đề nghị nào liên quan đến 02 ngôi mộ trên đất. Sau khi tách thửa, 02 ngôi mộ nằm trên thửa đất 661. Sau đó, gia đình Q đã nhiều lần trao đổi với gia đình anh Lê Hữu C và đại diện Chi hai, dòng họ Nguyễn T4, về việc di dời 2 ngôi mộ hoặc mua lại quyền sử dụng đất đối với phần đất có 02 ngôi mộ. Tuy nhiên, do gia đình anh C và C3 hai, họ Nguyễn T4 không đồng ý nên Q đã xây tường bao bằng gạch block bao quanh 02 ngôi mộ trên diện tích 33,5m2 (ba mươi ba phẩy năm mét vuông) và lợp mái che. Ngày 24/5/2022, bà Nguyễn Thị P đã gửi đơn đề nghị giải quyết đối với các ngôi mộ trên thửa đất số 661 đến Ủy ban nhân dân xã H. Quá trình giải quyết Ủy ban nhân dân xã H đã nhiều lần mời các bên đến trụ sở để làm việc, hòa giải nhưng không đi đến thống nhất chung được nên Ủy ban nhân dân xã đã yêu cầu các bên liên quan giữ nguyên hiện trạng thửa đất và mộ trên đất để tiến hành xác minh, giải quyết. Đến chiều ngày 18/11/2022, do không thống nhất được việc giải quyết liên quan đến các ngôi mộ, Bùi Văn Q đã dùng búa đập toàn bộ phần ngai mộ có gắn bia mộ được xây phía trên mộ của gia đình anh Lê Hữu C và 01 bát hương gắn trên mặt mộ. Sau khi phát hiện việc mộ của gia đình mình bị đập phá, anh C đã trình báo sự việc đến Công an xã H. Ngày 19/11/2022, khi Q định trèo vào khu vực có mộ thì bị phát hiện và được mời về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc Q đã khai nhận việc đập phá mộ của gia đình anh C ngày 18/11/2022.

Hậu quả:

- Ngai mộ được xây dựng tháng 11/2017, bị hủy hoại hoàn toàn. Ngai được xây bằng gạch đỏ đặc, dạng tường đơn, có trát, dày 12cm, diện tích mặt ngai khoảng 2,8m2.

- Tại ngai phía D2 (được xây dựng tháng 11/2017), xây bằng gạch đỏ đặc, dạng tường đơn, có trát, dày 11cm. Phần bị hủy hoại có diện tích 0,12m2.

- 01 (một) bia mộ được làm bằng đá xẻ, trên khắc chữ, kích thước mặt bia khoảng (40 x 60) cm.

- 01 (một) bát hương bằng xứ màu trắng, có hoa văn màu xanh, hình trụ tròn, đường kính khoảng 30cm, cao khoảng 30cm.

Ngày 24/4/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ1 đã yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản bị hư hỏng trên.

Tại bản Kêt luận định giá tài sản sô 25/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ứ: Tổng giá trị tài sản hư hỏng trên phần mộ của gia đình anh Lê Hữu C là 1.620.220 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 búa có quả búa bằng sắt, kích thước (11 x 5 x 5,5)cm. Cán búa bằng sắt dạng hình trụ tròn đường kính 3,2cm, dài 21,5 cm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Bùi Văn Q về tội: “Xâm phạm mồ mả” qui định tại khoản 1 Điều 319 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 319, điểm b, I, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: xử phạt bị cáo Bùi Văn Q từ 06 tháng từ đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 búa có quả búa bằng sắt, kích thước (11x5x5.5)cm. Cán búa bằng sắt, dạng hình trụ tròn, đường kính 3.2cm, dài 21.5cm. Về án phí: bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

[2] Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: ngày 18/11/2022, do mâu thuẫn, bực tức về việc gia đình anh Lê Hữu C không phối hợp trong việc xử lý đối với khu mộ của gia đình anh C nằm trên thửa đất số 661, tờ bản đồ 18, địa chỉ tại thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP . thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị P là vợ bị cáo Q. Nên bị cáo đã thực hiện hành vi dùng búa đập toàn bộ phần ngai mộ và một bát hương gắn trên mặt mộ được xây phía trên mộ chung của gia đình anh Lê Hữu C (Trong đó có mộ của bà Nguyễn Thị Q1 là thím của anh C) làm hư hỏng ngai mộ, bia mộ và một bát hương gắn trên mặt mộ. Tổng tài sản bị hư hỏng là 1.620.220 đồng. Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Xâm phạm mồ mả” theo quy định tại khoản 1 Điều 319 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn đối với phần mộ của người đã chết, xâm phạm đến phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã cố ý phạm tội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị báo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường là 1.620.220 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, TP .; tại phiên tòa đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b, I, s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.

[4] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 1.620.220 đồng. Ghi nhận việc bị cáo Bùi Văn Q đã tự nguyện nộp tiền bồi thường trả cho bị hại số tiền 1.620.220 đồng tại cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, TP .. Đại diện bị hại không có ý kiến, đề nghị gì về vấn đề trách nhiệm dân sự.

[5] Một số nội dung liên quan đến vụ án:

- Đối với bà Nguyễn Thị P: Quá trình điều tra đã làm rõ, bà Nguyễn Thị P là chủ sử dụng thửa 661 có hai ngôi mộ. Tuy nhiên, việc bị cáo Q đập phá mộ là tự phát, bà P không biết cũng không tham gia vào việc đập phá nên bà P không có lỗi.

- Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất không thể hiện hai ngôi mộ trên đất và quá trình biến động của thửa đất không thể hiện hai ngôi mộ. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu thập tài liệu chứng cứ và đã có văn bản kiến nghị UBND huyện Ứ và Sở tài nguyên và môi trường thành phố H giải quyết và xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 búa có quả búa bằng sắt, kích thước (11 x 5 x 5,5)cm. Cán búa bằng sắt dạng hình trụ tròn đường kính 3,2cm, dài 21,5 cm.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 319, điểm b, I, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Căn cứ Điều 106; 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Xâm phạm mồ mả”.
  2. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Văn Q cho UBND xã H và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Bùi Văn Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Văn Q phải bồi thường cho bị hại số tiền là 1.620.220 đồng. Ghi nhận bị cáo Bùi Văn Q đã tự nguyện nộp tiền bồi thường trả cho bị hại, đại diện theo ủy quyền của những người bị hại là anh Nguyễn Hữu C4 số tiền là 1.620.220 đồng (Một triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, hai trăm hai mươi đồng.) tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Ứ, TP . theo biên lai thu tiền số 0011773 ngày 18/10/2024.
  4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 búa có quả búa bằng sắt, kích thước (11 x 5 x 5,5)cm. Cán búa bằng sắt dạng hình trụ tròn đường kính 3,2cm, dài 21,5 cm. (Vật chứng có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứ1, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 09/10/2024).
  5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - CA, VKS, THADS Ứng Hòa;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về xâm phạm mồ mả

  • Số bản án: 99/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Xâm phạm mồ mả
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội xâm phạm mồ mả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger