Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THÀNH

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 99/2023/HS-ST

Ngày 28 - 11 - 2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Lưu Đình Tâm
  2. Ông: Quách Hà Vính

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Tuệ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 95/2023/TLST-HS ngày 10/10/2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HS, ngày 16/11/2023 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Vũ Quốc C - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 7 năm 2003 tại: thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: khu phố P, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Bố: Vũ Quốc P; Mẹ: Trịnh Thị T; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 17/06/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
  2. Họ và tên: Lê Quang H - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 8 năm 2000 tại: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, Tiền sự: Không; Bố: Lê Quang H1 - Sinh năm: 1973; Mẹ: Lê Thị V - Sinh năm 1976; Vợ con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 17/06/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
  3. Họ và tên: Phạm Văn Đ - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22 tháng 01 năm 2005 tại: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn C xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Phạm Văn T1 - Sinh năm: 1973; Mẹ: Đỗ Thị H2- Sinh năm 1975; Vợ con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm

giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 17/06/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

  1. Họ và tên: Nguyễn Công Đ1 - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 9 năm 2003 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: khu phố P, TT K, T, Thanh Hóa; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Nguyễn Văn S - Sinh năm: 1972; Mẹ: Nguyễn Thị K - Sinh năm 1976; Vợ con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 17/06/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
  1. Họ và tên: Trần Văn M - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam
    Sinh ngày 25 tháng 11 năm 1988 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: khu phố F T, TT K, T, Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Trần Văn C1 - Sinh năm: 1964; Mẹ: Phạm Thị B- Sinh năm 1964; Vợ: Lê Thị Thanh M1 – Sinh năm 1987; Vợ chồng có hai con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/7/2023 Công an huyện T, tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn M về hành vi gây mất trật tự công cộng, cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Quyết định số 0010336/QĐ – XPHC; Ngày 16/6/2011 bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Cố ý gây thương tích.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/8/2023 đến ngày 23/08/2023 chuyển sag tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Lê Ngọc C2, sinh năm: 1995
Địa chỉ: Khu phố E T, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 06/6/2023, Vũ Quốc C sinh năm 2003, trú tại khu phố P, thị trấn K, huyện T cùng với Phạm Văn Đ sinh năm 2005, trú tại thôn C, xã T, huyện T; Lê Quang H sinh năm 2000, trú tại thôn A, xã T, huyện T và Nguyễn Công Đ1 sinh năm 2003, trú tại khu phố P, thị trấn K, huyện T cùng nhau ngồi uống nước ở quán đối diện trường Trung học cơ sở xã T, huyện T. Ngồi nói chuyện được một lúc thì cả bốn người đều này sinh ý định cùng góp tiền với nhau để mua ma túy đá về sử dụng. Sau đó Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1 mỗi người góp cho C số tiền 100.000 đồng, Lê Quang H góp cho C số tiền 200.000 đồng cùng bằng hình thức chuyển khoản, bản thân C góp 100.000 đồng. Sau khi góp được số tiền 500.000 đồng thì Vũ Quốc C gọi điện thoại cho Trần Văn M sinh năm 1988, trú tại khu phố F T, thị trấn K, huyện T để hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá. Do M đang có sẵn ma tuý trong nguời nên đồng ý bán cho C một gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng. Sau đó M hẹn C ra khu vực cổng Trường mầm non thuộc khu phố F T, thị trấn K, huyện T để giao dịch mua bán ma tuý. Khi này Phạm Văn Đ dùng xe máy của Vũ Quốc C chở C đi gặp M để mua ma tuý. M từ nhà mang 01 gói ma tuý ra khu vực đã hẹn để xuống nền đường rồi gọi điện hướng dẫn C đến để lấy gói ma tuý. Khi C lấy được gói ma tuý thì M bảo C chuyển số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản

của Lê Ngọc C3 sinh năm 1995, trú tại khu phố E, T, thị trấn K, huyện T (C2 là bạn của M). Sau đó M bảo C2 chuyển lại cho mình số tiền 400.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi mua được ma túy đá thì Vũ Quốc C, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn Đ2, Lê Quang H cùng nhau đi đến đoạn đường đê thuộc thôn A, xã T, huyện T. Tại đây C nhặt được 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (Gồm ống hút nhựa, chai nhựa, ống thuỷ tinh dạng cóng, bật lử ga màu xanh), không biết do ai để lại tại khu vực bờ đê. C lấy gói ma tuý vừa mua được ra, dùng chiếc bấm móng tay của mình để cắt mở gói ma túy ra và bỏ hết số ma túy này vào cóng thuỷ tinh rồi dùng bật lửa ga màu xanh đốt phía dưới cóng thuỷ tinh có ma tuý, sau đó C đưa bật lửa cho Lê Quang H tiếp tục đốt phía dưới cóng để ma túy chuyển sang dạng khói. Khi ma túy đá chuyển sang dạng khói Vũ Quốc C, Nguyễn Công Đ1, Phạm Văn Đ, Lê Quang H thay nhau sử dụng ma túy bằng cách hút vào cơ thể thông qua đường miệng, mỗi người sử dụng được khoảng 2 đến 3 lần thì hết số ma túy trên. Sử dụng ma tuý xong thì ai về nhà người đó để đi ngủ.

Đến ngày 08/6/2023 nhận thức được việc hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như trên là vi phạm pháp luật nên Vũ Quốc C đã tự giác đến Công an huyện T xin tự thú, tiếp đó, sau khi nhận được giấy triệu tập của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1 đã đến cơ quan CSĐT để xin đầu thú mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Kết quả giám định chất ma túy tại bản kết luận giám định số: 2253/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Các hạt tinh thể bám dính trong ống thủy tinh dạng cóng (là dụng cụ sử dụng ma túy thu giữ của các đối tượng) là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện T triệu tập Trần Văn M đến để làm rõ một số nội dung liên quan đến vụ án trên. Nhận thức được hành vi bán trái phép chất ma túy của mình là sai, vi phạm pháp luật nên đến ngày 17/8/2023 M đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T đầu thú và khai báo toàn bộ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bản thân để nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma tuý mà Trần Văn M có để bán cho Vũ Quốc C theo M khai vào đêm ngày 04/6/2023, M mua được của một nam thanh niên không xác định được tên tuổi và địa chỉ ở thành phố T. Do trời tối nên M không xác định được vị trí mua được gói ma tuý. Nên Cơ quan CSĐT không đủ căn cứ xác định lại hiện trường nơi xảy ra vụ việc.

Đối với Lê Ngọc C2 là người cho Trần Văn M nhờ số tài khoản để Vũ Quốc C chuyển khoản số tiền 500.000 đồng mua ma tuý. Quá trình điều tra C2 khai nhận việc Vũ Quốc C chuyển khoản cho Trần Văn M không biết để làm gì, không biết mục đích M và C mua bán ma túy với nhau.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho M do trời tối M không nhìn rõ đặc điểm, cũng không biết nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau khi có đủ căn cứ.

Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập của các bị cáo xác định hiện nay các bị cáo Vũ Quốc C, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1, Lê Quang H và Trần Văn M đều không có công việc ổn định, không có tài sản có giá trị đáng kể.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu xám trắng, loại màn hình cảm ứng, bên trong có gắn thẻ sim điện thoại số thuê bao 0328.867.xxx, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Vũ Quốc C);

- 01 (một) chai nhựa màu trắng đã qua sử dụng, loại chai đựng nước ngọt không có nhãn hiệu, chiều dài khoảng 21 cm, đường kính đáy chai khoảng 6 cm, đường kính cổ chai khoảng 2,5 cm, không có nắp chai, bên trong không có nước (Thu giữ của Vũ Quốc C);

- 01 (một) bật lửa ga màu xanh, đã qua sử dụng (Thu giữ của Vũ Quốc C);

- 02 (hai) ống nhựa màu trắng, dạng ống hút có chiều dài mỗi ống khoảng 26 cm. Mỗi đầu của hai ống đều được chọc xuyên qua một nắp chai nhựa màu xanh. Trong đó có 01 (một) ống được nối với ống thủy tinh đã bị vỡ một đầu (dạng cóng) bằng túi nilon và băng dính. Tại đầu ống thủy tinh có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) (Thu giữ của Vũ Quốc C);

- 01 (một) dụng cụ bấm móng tay bằng kim loại màu trắng (Thu giữ của Vũ Quốc C);

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn trắng đen xám bạc, số khung JC52E5275657, số máy 5233DY504628, không có gương chiếu hậu, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Vũ Quốc C);

- 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 13, màu hồng, mặt lưng bị vỡ kính, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0358930696, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Nguyễn Công Đ1);

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS màu hồng, loại màn hình cảm ứng đã bị vỡ màn hình một phần, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0398228120 (Thu giữ của Phạm Văn Đ);

- 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, bên trong gắn một thẻ sim số thuê bao 0845614456, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Lê Quang H);

- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh đen, nhãn hiệu VIVO, điện thoại bị vỡ màn hình, hư hỏng nặng không hoạt động được, bên trong điện thoại có gắn thẻ sim số thuê bao 0969.226.908 (Thu giữ của Trần Văn M);

- 01 Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn trắng đen xám bạc, biển kiểm soát 36E1 – 148.36 là tài sản hợp pháp của anh Vũ Quốc P sinh năm 1971, trú tại phu phố P, thị trấn K, huyện T (bố đẻ C) cho C mượn đi chơi vào tối ngày 06/6/2023, việc C sử dụng xe trên đi mua ma túy anh P không biết nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại xe trên cho anh P.

Những vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKSTT ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân (Sau đây viết tắt VKSND) huyện T đã truy tố bị cáo Vũ Quốc C, Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS); Bị cáo Trần Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 BLHS.

*Phần tranh tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17,

Điều 58 và Điều 38 BLHS đối với các bị cáo Vũ Quốc C, Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1, áp dung thểm điểm r, t Khoản 1 Điều 51, Điều 54 BLHS cho bị cáo Vũ Quốc C xử phạt bị cáo C từ 05 năm đến 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ; Đề nghị mức hình phạt cho các bị cáo Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Trần Văn M, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Văn M từ 24 đến 26 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) tịch thu tiêu hủy các mẫu vật còn lại sau giám định. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai nhựa màu trắng đã qua sử dụng, loại chai đựng nước ngọt không có nhãn hiệu, chiều dài khoảng 21 cm, đường kính đáy chai khoảng 6 cm, đường kính cổ chai khoảng 2,5 cm, không có nắp chai, bên trong không có nước (Thu giữ của Vũ Quốc C); 01(một) bật lửa ga màu xanh, đã qua sử dụng (Thu giữ của Vũ Quốc C); 02 (hai) ống nhựa màu trắng, dạng ống hút có chiều dài mỗi ống khoảng 26 cm. Mỗi đầu của hai ống đều được chọc xuyên qua một nắp chai nhựa màu xanh. Trong đó có 01 (một) ống được nối với ống thủy tinh đã bị vỡ một đầu (dạng cóng) bằng túi nilon và băng dính. Tại đầu ống thủy tinh có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) (Thu giữ của Vũ Quốc C); 01 (một) dụng cụ bấm móng tay bằng kim loại màu trắng (Thu giữ của Vũ Quốc C) là vật liên quan đến hành vi phạm tội;

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh đen, nhãn hiệu VIVO, điện thoại bị vỡ màn hình, hư hỏng nặng không hoạt động được, bên trong điện thoại có gắn thẻ sim số thuê bao 0969.226.908 (Thu giữ của Trần Văn M) là vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu xám trắng, loại màn hình cảm ứng, bên trong có gắn thẻ sim điện thoại số thuê bao 0328.867.xxx, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Vũ Quốc C); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 13, màu hồng, mặt lưng bị vỡ kính, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0358930696, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Nguyễn Công Đ1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS màu hồng, loại màn hình cảm ứng đã bị vỡ màn hình một phần, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0398228120 (Thu giứ của Phạm Văn Đ); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, bên trong gắn một thẻ sim số thuê bao 0845614456, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Lê Quang H) là những vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đề nghị truy thu để sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáo M là tiền thu được từ hành vi bán ma túy mà có.

Về hình phạt bổ sung đề nghị không xử phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo không có tài sản, thu nhập, sống dựa vào bố mẹ. Các bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, thống nhất với bản cáo trạng mô tả về hành vi phạm tội của các bị cáo. Phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS, các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề

nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhanh trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Quốc C, Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1, Trần Văn M thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở chứng minh: Vào tối ngày 06/06/2023 các bị cáo Vũ Quốc C, Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1 do có nhu cầu sử dung ma túy nên đã cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng, trong đó bị cáo Vũ Quốc C, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1 góp 100.000đ, bị cáo Lê Quang H góp 200.000đ vào tài khoản của C, sau khi có tiền Chiển và Phạm Văn Đ đi mua ma túy của Trần Văn M với số tiền 500.000đ. Sau khi mua được ma túy các bị cáo về cùng nhau sử dụng bằng dụng cụ sử dụng ma túy các bị cáo nhặt được tại khu vực đê thôn A, xã T. Khi nhận thức được hành vi phạm tội ngày 08/06/2023 bị cáo C đã ra tự thú và giao nộp các bộ sử dụng ma túy, qua giám định có chất ma túy Methanphetamin. Các bị cáo khác đến công an huyện T đầu thú về hành vi tổ chức sử dụng ma túy và mua bán ma túy trái phép. Hành vi của bị cáo Vũ Quốc C, Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1 phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Trần Văn M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 BLHS. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội. Các bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng do những tác hại xấu đến đời sống kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, làm lan tràn tệ nạn nghiện hút nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để đi vào con đường phạm pháp. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì; để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.

[4]. Về vai trò của các bị cáo; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tạm Điểm s Khoản 1 Điều

51 BLHS vì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1, Trần Văn M sau khi phạm tội ra đầu thú nên áp dụng Khoản 2 Điều 51 BLHS cho các bị cáo. Đối với bị cáo Phạm Văn Đ, bị cáo H, bị cáo M, bị cáo C có nhân thân là người có công với nhà nước nên áp dụng thêm Khoản 2 Điều 51 BLHS cho các bị cáo. Đối với bị cáo C sau khi phạm tội ra tự thú và tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để mở rộng vụ án nên áp dụng Điểm r, t Khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án về hành vi tổ chức sử dụng ma túy trái phép do các bị cáo đều cùng nhau góp tiền và đều có hành vi sử dụng nên có vai trò ngang nhau trong vụ án nên hình phạt của các bị cáo ngang nhau. Đối với các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX áp dụng hình phạt đối với các bị cáo khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp trong đó bị cáo C có nhiêu tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS, quá trình điều tra truy tố đã có công trong việc phát hiện và xử lý tội phạm nên HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong khung hình phạt liền kề là phù hợp. Đối với bị cáo M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu ngoài lần phạm tội này bị cáo đã từng bị tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên HĐXX cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ sức cải tạo bị cáo thành công dân có ích.

[6]. Đối với Lê Ngọc C2 được M nhờ chuyển tiền vào tài khoản không biết số tiền trên do bán ma túy mà có nên cơ quan điều tra không xử lý C2 về tội giúp sức cho việc bán ma túy là phù hợp.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công ăn việc làm, nghề nghiệp ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8]. Xét về vật chứng: 01 (một) chai nhựa màu trắng đã qua sử dụng, loại chai đựng nước ngọt không có nhãn hiệu, chiều dài khoảng 21 cm, đường kính đáy chai khoảng 6 cm, đường kính cổ chai khoảng 2,5 cm, không có nắp chai, bên trong không có nước (Thu giữ của Vũ Quốc C); 01(một) bật lửa ga màu xanh, đã qua sử dụng (Thu giữ của Vũ Quốc C); 02 (hai) ống nhựa màu trắng, dạng ống hút có chiều dài mỗi ống khoảng 26 cm. Mỗi đầu của hai ống đều được chọc xuyên qua một nắp chai nhựa màu xanh. Trong đó có 01 (một) ống được nối với ống thủy tinh đã bị vỡ một đầu (dạng cóng) bằng túi nilon và băng dính. Tại đầu ống thủy tinh có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) (Thu giữ của Vũ Quốc C); 01 (một) dụng cụ bấm móng tay bằng kim loại màu trắng (Thu giữ của Vũ Quốc C) là vật liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh đen, nhãn hiệu VIVO, điện thoại bị vỡ màn hình, hư hỏng nặng không hoạt động được, bên trong điện thoại có gắn thẻ sim số thuê bao 0969.226.908 (Thu giữ của Trần Văn M) là vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu xám trắng, loại màn hình cảm ứng, bên trong có gắn thẻ sim điện thoại số thuê bao 0328.867.xxx, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Vũ Quốc C); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 13, màu hồng, mặt lưng bị vỡ

kính, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0358930696, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Nguyễn Công Đ1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS màu hồng, loại màn hình cảm ứng đã bị vỡ màn hình một phần, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0398228120 (Thu giứ của Phạm Văn Đ); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, bên trong gắn một thẻ sim số thuê bao 0845614456, tình trạng đã qua sử dụng (Thu giữ của Lê Quang H là những vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Toàn bộ vật chứng trên đang được lưu trữ tại Chi cục Thi hành án huyện Thạch Thành theo biên bản giao nhận vật chứng giữ Công an huyện T và Thi hành án huyện T ngày 10/10/2023.

Đối với số tiền 500.000₫ bị cáo M bán túy mà có, M đã chi tiêu hết cần truy thu để sung quỹ nhà nước.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Quốc C, Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"; Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1, Vũ Quốc C. (Áp dụng thêm Điểm r, t Khoản 1 Điều 51, Điều 54 BLHS cho bị cáo Vũ Quốc C).

Xử phạt:

  1. Bị cáo Lê Quang H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/06/2023
  2. Bị cáo Phạm Văn Đ, 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/06/2023
  3. Bị cáo Nguyễn Công Đ1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/06/2023
  4. Bị cáo Vũ Quốc C 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/06/2023

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 BLHS cho bị cáo Trần Văn M.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn M 26 (hai mươi sáu) tháng tù, Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/08/2023.

Áp dụng: Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Về vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai nhựa màu trắng đã qua sử dụng, loại chai đựng nước ngọt không có nhãn hiệu, chiều dài khoảng 21 cm, đường kính đáy chai khoảng 6 cm, đường kính cổ chai khoảng 2,5 cm, không có nắp chai, bên trong không có nước; 01(một) bật lửa ga màu xanh, đã qua sử dụng; 02 (hai) ống nhựa màu trắng, dạng ống hút có chiều dài mỗi ống khoảng 26 cm. Mỗi đầu của hai ống đều được chọc xuyên qua một nắp chai nhựa màu xanh. Trong đó có 01 (một) ống được nối với ống thủy tinh đã bị vỡ một đầu (dạng cóng) bằng túi nilon và băng dính. Tại đầu ống thủy tinh

có bám dính các hạt tinh thể màu trắng; 01 (một) dụng cụ bấm móng tay bằng kim loại màu trắng là vật liên quan đến hành vi phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh đen, nhãn hiệu VIVO, điện thoại bị vỡ màn hình, hư hỏng nặng không hoạt động được, bên trong điện thoại có gắn thẻ sim số thuê bao 0969.226.908 không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu xám trắng, loại màn hình cảm ứng, bên trong có gắn thẻ sim điện thoại số thuê bao 0328.867.xxx, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 13, màu hồng, mặt lưng bị vỡ kính, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0358930696, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS màu hồng, loại màn hình cảm ứng đã bị vỡ màn hình một phần, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0398228120; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, bên trong gắn một thẻ sim số thuê bao 0845614456, tình trạng đã qua sử dụng là những vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Toàn bộ vật chứng trên đang được lưu trữ tại Chi cục Thi hành án huyện Thạch Thành theo biên bản giao nhận vật chứng giữ Công an huyện T và Thi hành án huyện T ngày 10/10/2022.

Truy thu của bị cáo M số tiền 500.000đ để sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Buộc các bị cáo Vũ Quốc C, Lê Quang H, Phạm Văn Đ, Nguyễn Công Đ1, Trần Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Thạch Thành;
  • - Công an huyện Thạch Thành;
  • - Chi cục THADS Thạch Thành;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 99/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger