|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 28-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Thế;
2. Ông Vân Văn Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng tại điểm cầu trung tâm, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS, ngày 26/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS, ngày 15/8/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/01/1971, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản Tung C, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Vàng A P1, đã chết; mẹ đẻ: Lý Thị G, đã chết; bị cáo chung sống như vợ chồng với Sùng Thị C, sinh năm 1982 (Không đăng ký kết hôn); bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa. Bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, tại Trại Tạm giam Công an tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 phút, ngày 05/3/2024, tại khu vực bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Công an xã M bắt quả tang Vàng A P đang tàng trữ trái phép 02 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng. Vàng A P khai nhận: Khoảng 17 giờ, ngày 05/3/2024, Vàng A P mang theo số tiền 3.000.000 đồng từ nhà đi đến nhà Tẩn Chỉnh Q, sinh năm 1979, địa chỉ: Bản M, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu để mua Heroine về sử dụng. Tại nhà Q, P mua được của Q 02 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu xanh, hết số tiền 3.000.000 đồng. Khi P đang trên đường đi về nhà thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Tại Kết luận số: 12/KL-GĐVV, ngày 05/3/2024, của Giám định viên tư pháp theo vụ việc, kết luận: Tổng khối lượng 02 gói chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A P là 6,05 gam (Sáu phẩy không năm gam).
Kết luận giám định số: 286/KL-KTHS, ngày 10/3/2024, của Phòng K Công an Tỉnh L, kết luận: 02 Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H).
Tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKSPT, ngày 26 tháng 7 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng A P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vàng A P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 05 (Năm) năm, 06 (Sáu) tháng đến 06 (S) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 5,84 gam Heroine còn lại sau giám định, được gói trong mảnh giấy trắng, các mảnh nilon và vỏ niêm phong. Đối với 0,21 gam Heroine trích trong tổng số thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật. Tranh luận với quan điểm của người bào chữa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tặng nhiệm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và về xử lý vật chứng, án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các cáo. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Vàng A P đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 19 giờ 30 phút, ngày 05/3/2024, tại khu vực bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã M bắt quả tang Vàng A P tàng trữ trái phép 02 gói chất ma túy, loại chất bột màu trắng. Vàng A P khai nhận, chất bột màu trắng đó là H1 do P mua để sử dụng cho bản thân. Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: Số chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A P là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 6,05 gam.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Bị cáo khai số H1 bị thu giữ là bị cáo mua của Tẩn Chỉnh Q. Tuy nhiên, quá trình điều tra, đối chất, Tẩn Chỉnh Q không thừa nhận việc bán Heroine cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xác định Tẩn Chỉnh Q là người đã bán Heroine cho bị cáo trong vụ án này.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng, gồm: 5,84 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, các mảnh nilon màu xanh và vỏ gói, vỏ niêm phong, là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,21 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
- Bị cáo Vàng A P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vàng A P: 06 (Sáu) năm tù.
Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 05/3/2024.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 5,84 gam Heroine còn lại sau giám định, được gói trong mảnh giấy trắng, 02 mảnh nilon màu xanh và vỏ gói, vỏ niêm phong.
(Các vật chứng khác hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo tàng trữ trái phép CMT
