|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-6-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trọng Hiếu;
- Ông Phạm Văn Thành;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trí Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số A, ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:
Bà T và ông T1 tổ chức đám cưới vào năm 2019. Hôn nhân của vợ chồng bà là tự nguyện. Vợ chồng bà có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54, ngày 25/9/2019. Vợ chồng sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Ông T1 không quan tâm vợ con, thường xuyên đi uống rượu. Kinh tế gia đình do một mình bà T lo. Mặc dù bà T đã cố gắng duy trì quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Ngọc Thiên T2, sinh ngày 14/4/2020. Hiện nay, cháu T2 đang do bà T chăm sóc. Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Phạm Minh T1. Ông T1 không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà T và cũng không đến Tòa án giải quyết vụ án.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Minh T1 có nơi trú tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Đước thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà T. Bị đơn ông Phạm Minh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông T1.
[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Minh T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 25/9/2019 nên xác định hôn nhân của vợ chồng bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà Thảo nguyên n mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Ông T1 không quan tâm vợ con, thường xuyên đi uống rượu. Kinh tế gia đình do một mình bà T3 lo. Mặc dù bà T đã cố gắng duy trì quan hệ hôn nhân nhưng không kết quả. Còn về phía ông T1, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 nhưng ông T1 không đến tham gia hòa giải và không đưa ra phương án khắc phục mâu thuẫn. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông T1 không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T1.
[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Ngọc Thiên T2, sinh ngày 14/4/2020. Hiện nay cháu T2 đang do bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và bà T yêu cầu được tiếp tục dưỡng cháu T2, còn ông T1 không có ý kiến gì về con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cho bà T nuôi dưỡng con chung là cháu T2. Về cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T1 không có ý kiến gì về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Bà T trình bày không có, ông T1 không có ý kiến phản hồi về nội dung này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà T chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 1, Khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Phạm Minh T1
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Phạm Minh T1.
-
Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng 01 người con chung tên Phạm Ngọc Thiên T2, sinh ngày 14/4/2020. Ông Phạm Minh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0010159 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cần Đước sang án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Võ Thu Xuân |
4
Bản án số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 99/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Thu Thảo ly hôn với ông Phạm Minh T
