|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI- TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thanh Hoàn và bà Đỗ Thị Hân
Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Đình Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 09 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Minh Đ (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 19/9/1994 tại H, Quảng Ninh. Nơi thường trú: tổ C, khu E, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: số nhà D, phố T, khu D, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: lớp 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Thanh B (đã chết) và bà Dương Thị D. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: chưa có. Nhân thân: ngày 12/3/2021, Công an thành phố M xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý và sử dụng trái phép chất ma tuý”, ngày 19/3/2021 nộp xong tiền phạt. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 02/12/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Trường G (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 14/6/1993 tại Đ, Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: số nhà D, phố T, khu D, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: lớp 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị G1. Vợ: Bùi Nguyên P, bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 02/12/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
2
3. Họ và tên: Bùi Văn H (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 17/3/1993 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: khu D, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: lớp 6/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Bùi Văn Í và bà Nguyễn Thị T. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 02/12/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Đinh Văn Q (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 17/3/2001 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: khu D, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: lớp 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Đinh Văn C (đã chết) và bà Trần Thị T1. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 02/12/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Đặng Thị Quỳnh T2 (tên gọi khác: không), giới tính: nữ, sinh ngày 22/6/1999 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn Khe Muối 2, xã Yên Than, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: khu Thượng Trung, phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Dao, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Đặng Quốc H1 và bà Bàn Thị Thu H2. Chồng, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 02/12/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho vị cáo Đặng Thị Quỳnh T2: ông Lê Sỹ D1 - Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
- Người làm chứng: Nguyễn Văn S, Nguyễn Phương A, Nguyễn Nhật L, Vũ Thị H3, Trịnh Bảo C1. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 3/2023, Nguyễn Minh Đ thuê nhà số D đường T, thuộc khu D, phường K, thành phố M của chị Vũ Thị H3 (sinh năm 1980, trú tại: tổ D, khu G, phường H, thành phố H) làm chủ. Sau khi thuê nhà, Đ ở cùng Bùi Văn H, Nguyễn Trường G, Đinh Văn Q. Đ ở phòng ngủ tầng 1, G và H ở phòng ngủ tầng 2 phía trước còn Q ở tại phòng ngủ tầng 3. Đến tháng 4/2023, Q đi xuất khẩu lao động nên không ở cùng nữa. Khoảng đầu tháng 11/2023, Q về ở nhờ tại phòng ngủ tầng 3. Quá trình ở tại đây, cả nhóm thường rủ bạn bè đến ăn uống và sử dụng ma tuý nhiều lần, không nhớ được cụ thể.
3
Ngày 15/11/2023, Đ mua được 15 túi ma tuý nước vui với giá 550 nhân dân tệ của một người phụ nữ (chưa xác định được lai lịch) tại một quán Bar (không nhớ địa chỉ) ở thành phố Đ, Trung Quốc. Sau khi mua được ma tuý, Đ đã sử dụng hết 05 túi, còn lại 10 túi thì Đ cất giấu trong túi quần đùi để trên sân thượng của nhà trọ để khi nào có nhu cầu sẽ mang ra sử dụng.
Khoảng 02 giờ ngày 26/11/2023, Đ cùng với H, Q, G, Đặng Thị Quỳnh T2, Nguyễn Nhật L, Trịnh Bảo C1, một nam thanh niên tên C2 và một nữ thanh niên tên V (chưa xác định được lai lịch) cùng có mặt tại nhà trọ của Đ. Tại đây, Đ nảy sinh ý định sử dụng ma tuý nên Đ tự đi lấy 01 túi ma tuý nước vui cất giấu trên tầng thượng, mang xuống bếp tự pha vào 01 ấm siêu tốc với nước ngọt, rồi tự sử dụng trước một ít rồi để lại bếp. Lúc này, mọi người cũng nảy sinh ý định cùng sử dụng ma tuý. Sau đó, có người mang ấm siêu tốc chứa ma tuý nước vui lên phòng ngủ tầng 2 của H và G cùng mọi người. Lúc này, G đi đón Nguyễn Phương A cùng đến nhà trọ. Khi G chở Phương A đến, C2 cầm ấm siêu tốc đựng nước vui rót ra cốc nhựa để cả nhóm cùng nhau sử dụng bằng hình thức uống và cùng nhau nghe nhạc. Trong ấm lúc này vẫn còn ma tuý nước vui. Đến gần sáng, C2, Phương A, C1, V và L ra về, Đ và T2 ngủ ở tầng 01, những người còn lại ngủ tại phòng ngủ của G và H.
Khoảng 02 giờ ngày 27/11/2023, khi Đ, G, H, T2, Q, đang ở nhà của Đ thì Nguyễn Văn S cùng N và K (không rõ lai lịch, địa chỉ) là bạn của Đ và G đến chơi. Cả nhóm ăn, uống tại tầng 01 ngôi nhà. Khoảng 03 giờ cùng ngày, N nảy sinh ý định sử dụng ma tuý và mời mọi người cùng sử dụng nên nói có mang theo ma tuý Ketamine thì mọi người đồng ý. Cả nhóm lên phòng ngủ tầng 2 của H và G. Tại đây, N và K bỏ ma tuý Ketamine mang theo trước đó, dùng bật lửa và 01 tờ tiền 2.000 đồng nghiền nhỏ Ketamine rồi đổ ra 01 đĩa sứ (có sẵn trong phòng, không biết ai mang lên trước đó) rồi N dùng tờ tiền loại 10.000 đồng cuộn thành 01 ống hút để cả nhóm cùng sử dụng ma tuý Ketamine bằng hình thức hít. Đồng thời lấy ma tuý nước vui còn lại trong ấm cho mọi người vừa sử dụng vừa nghe nhạc. Lúc này, Q bảo T2 rủ Nguyễn Nhật L đến cùng sử dụng. T2 sử dụng điện thoại của Q gọi L và được L đồng ý. Sau đó, Q đi đón L đến cùng sử dụng ma tuý. Đến nơi, L tự cầm cốc có ma tuý nước vui uống 01 ngụm rồi cầm đĩa có ma tuý Ketamine, tự kẻ 03 đường rồi dùng ống hút hít qua đường mũi rồi ngủ thiếp đi. Quá trình sử dụng, G còn gọi thêm Phương A đến sử dụng ma tuý cùng. Đến buổi sáng cùng ngày, Phương A và Q ra về (Q về quê ở huyện H). Những người còn lại vẫn ở phòng của G và H. Khoảng trưa cùng ngày, C1 đến và cùng sử dụng ma tuý, L cũng thức dậy và tự dùng ma tuý rồi tiếp tục ngủ thiếp đi. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ, T2, H về phòng trọ của T2 ở khu T, phường N, thành phố M nghỉ, còn N, K và C1 ra về. Đến tối cùng ngày thì Đ, T2, H quay lại nhà trọ của Đ.
Tối ngày 27/11/2023, cả nhóm có Đ, S, G và 01 nam thanh niên tên T3 (chưa xác định được lai lịch) đến chơi ngồi ăn, uống tại tầng 1 đến khoảng 02 giờ 20 phút ngày 28/11/2023, cả nhóm nảy sinh ý định tiếp tục sử dụng ma tuý. Lúc này, T3 ra về còn G rủ Phương A đến cùng sử dụng ma tuý thì Phương A đồng ý, khi Phương A đến thì Đ, G, S và Phương A lên phòng ngủ tầng 2 của G và H. Lúc này H đang
4
nằm trong phòng ngủ tầng 2, thấy mọi người lên sử dụng ma tuý thì H không có phản ứng gì rồi sang phòng ngủ của Q nằm, không sử dụng cùng do bị đau bụng. Tại đây, Đ, G, S và Phương A tiếp tục sử dụng ma tuý nước vui và Ketamine còn lại từ hôm trước rồi đi ngủ. Khoảng 07 giờ cùng ngày, C1 đến nhà trọ và T2 cũng thức dậy lên phòng ngủ tầng 2 cùng Đ sử dụng ma tuý nước vui rồi nằm ngủ. Đến trưa cùng ngày, sau khi sử dụng ma tuý xong, Đ, T2 và H tiếp tục sang nhà trọ của T2 nghỉ ngơi còn Phương A ra về.
Khoảng 17 giờ ngày 28/11/2023, Q quay về nhà trọ của Đ. Tối cùng ngày, Đ, T2 và H quay lại nhà trọ của Đ thì gặp S, G, Q, L, C1 và 01 người nữ tên X (không xác định được lai lịch, do L gọi đến chơi) đang ở trong nhà. X hỏi Đ còn ma tuý nước vui để sử dụng không thì Đ lên sân thượng lấy 01 túi ma tuý nước vui rồi cắt miệng túi ra định pha nhưng do X có biểu hiện ảo giác nên Đ để túi ma tuý đã cắt trên mặt bàn không pha nữa. Khoảng 23 giờ cùng ngày, X và C1 ra về, còn Đ, H, T2, S đi ăn đêm còn lại G, Q, L ở lại nhà trọ ngủ. Ăn đêm xong, Đ, H, T2 về phòng trọ của T2 nghỉ còn Sinh về phòng trọ của Đ ngủ.
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 29/11/2023, Phương A đến nhà trọ của Đ chơi. Phương A vào phòng ngủ của G, H thì được 01 người (không xác định được) mời sử dụng ma tuý Ketamine. Sau đó, Phương A cùng G và mọi người nghỉ ngơi rồi đi ngủ. Sáng cùng ngày, Đ, H, T2 quay lại nhà trọ của Đ. Khoảng 15 giờ cùng ngày khi Đ, G, Q, H, T2, S, Phương A, L đang ở nhà trọ thì bị lực lượng Công an thành phố M kiểm tra, thu giữ vật chứng, đồ vật như sau:
* Trong phòng ngủ tầng 2 phía trước:
- - 01 (một) chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 20cm, trên đĩa có:
- + Chất bột màu trắng. Tổ công tác đã thu chất bột màu trắng này (kí hiệu M2) vào 01 (một) túi nilon kích thước (8,5x5)cm. Sau khi thu vào túi, trên đĩa vẫn còn bám dính chất bột màu trắng dạng vết (kí hiệu M1).
- + 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Trần Thảo N1 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/3/2020, trên bề mặt thẻ bám dính chất bột màu trắng dạng vết (kí hiệu M3).
- + 01 (một) tờ tiền Việt Nam loại 10.000đ (mười nghìn đồng) mã số hiệu VB 19816833 được cuộn thành ống hút, bên trong lòng ống bám dính chất bột màu trắng (kí hiệu M4).
- + 01 (một) tờ tiền Việt Nam loại 2.000đ (hai nghìn đồng) mã số hiệu LD 2587978, trên bề mặt tờ tiền bám dính chất bột màu trắng (kí hiệu M5).
- - 01 (một) cốc nhựa trong suốt, hình chóp cụt, đường kính miệng cốc khoảng 9,5cm, đường kính đáy cốc khoảng 5,5cm, bên trong chứa chất lỏng màu cam (kí hiệu M6).
- - 02 (hai) chiếc loa màu trắng, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) chiếc đèn màu trắng, đã qua sử dụng.
5
- - 01 (một) túi nilon kích thước (8,5x13,5)cm, trong túi chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M7).
- - 01 (một) túi nilon màu vàng bị xé rách, bên ngoài túi có chữ “MANGO FRUIT TEA”, bên trong túi chứa chất bột màu cam (kí hiệu M8).
- - 01 (một) ấm đun nước màu đen bạc, đã qua sử dụng, bên trong chứa chất lỏng màu trắng (kí hiệu M17).
- Trên sân thượng: 01 (một) chiếc quần đùi màu xanh đen, đã qua sử dụng, trong túi quần có 08 (tám) túi nilon màu vàng, bên ngoài túi có chữ “MANGO FRUIT TEA”, bên trong túi chứa chất bột màu cam (kí hiệu từ M9 đến M16).
Ngày 02/12/2023, căn cứ tài liệu chứng cứ đã thu thập ban đầu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ hình sự, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Đinh Văn Q, Bùi Văn H và Đặng Thị Quỳnh T2 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Tạm giữ của Nguyễn Minh Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu ghi, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số 0813.853.333.
- Tạm giữ của Nguyễn Trường G: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số 0966.581.993.
- Tạm giữ của Đinh Văn Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số 0344.510.616.
- Tạm giữ của Bùi Văn H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số 0376.251.152.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số 0913.987.991.
- Tạm giữ của Đặng Thị Quỳnh T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu tím, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim số 0328.899.035.
Tại kết luận giám định số 1704/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
- - Mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M5, M7 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng như sau: M1, M3, M4, M5 dạng vết không xác định được, M2 là 0,048 gam và M7 là 2,759 gam;
- - Mẫu vật kí hiệu M6 gửi giám định có thể tích: 42ml, tìm thấy chất ma túy MDMA, Nimetazepam trong mẫu vật kí hiệu M6 gửi giám định.
- - Mẫu vật kí hiệu từ M8 đến M16 gửi giám định có tổng khối lượng là: 47,31 gam. Tìm thấy chất ma túy loại: Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam trong các mẫu vật kí hiệu từ M8 đến M16 gửi giám định.
Tại kết luận giám định số: 9531/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của V1 Bộ C3 kết luận:
6
- - Không tìm thấy chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy trong mẫu chất lỏng màu trắng (kí hiệu M17) gửi giám định.
- - Xác định được nồng độ và hàm lượng các chất ma tuý có trong các mẫu M6 và M8 đến M16.
Căn cứ 02 bản kết luận nêu trên, tính tổng khối lượng các chất ma tuý Nguyễn Minh Đ cất giấu là 0,246933 gam Methamphetamine, 3,463138 gam MDMA và 0,737567 gam Nimetazepam.
Tại kết luận giám định số 1705/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: tìm thấy Methamphetamine, MDMA và Dehydronorketamine (sản phẩm chuyển hoá của Ketamine) trong mẫu nước tiểu thu của: Nguyễn Trường G, Đinh Văn Q, Nguyễn Văn S, Nguyễn Nhật L và Trịnh Bảo C1. Tìm thấy MDMA trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Minh Đ, Đặng Thị Quỳnh T2. Tìm thấy MDMA và Dehydronorketamine trong mẫu nước tiểu thu của Bùi Văn H và tìm thấy D2 trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Phương A.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H, Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Người làm chứng anh Nguyễn Văn S có lời khai: anh là bạn của Nguyễn Trường G, sinh năm 1997. Nơi thường trú: khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh và Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1994. Nơi thường trú: khu E, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Do đó, khoảng 19 giờ ngày 28/11/2023, G có gọi điện rủ anh ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh chơi và cho địa chỉ tại số D, phố T, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng 02 giờ ngày 29/11/2024 anh đến phòng trọ của Đ và G, tại đây anh được chứng kiến mọi người đang sử dụng ma túy gồm có Đặng Thị Quỳnh T2, Nguyễn Phương A, Đặng Văn Q1, Nguyễn Nhật L. Lúc này có người phụ nữ đưa anh một cốc nước có chứa ma túy và một chiếc thẻ nhựa cùng một ống hút được cuộn bằng tờ tiền dài khoảng 15cm đưa cho anh và mọi người sử dụng ma túy ketamine để trên đĩa sứ. Sau khi sử dụng ma túy xong anh S đi ngủ đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì bị lực lượng công an đến kiểm tra lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa mọi người về trụ sở làm việc.
Người làm chứng chị Nguyễn Phương A có lời khai: do quen biết với Nguyễn Trường G nên khoảng 03 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, G liên hệ với chị qua zalo rủ chị đến số nhà D, T, phường K do G, Đ và Đinh Văn Q thuê để ở chơi. Sau đó G có đến quán bar P1 đón chị, khi đến nơi G dẫn chị lên phòng ở tầng 02 thì chị thấy có Đ, H, S, Q, T2 và L đang trên phòng nghe nhạc và sử dụng ma túy. Sau đó có một nam thanh niên trong nhóm mời chị sử dụng ma túy Ketamine. Sau đó chị về phòng trọ của mình, đến khoảng 5 giờ cùng ngày G nhắn tin cho chị sang số D, T, phường K, thành phố M chơi với mục đích sử dụng ma túy, khi đến nơi thì vẫn còn những người từ hôm trước đang sử dụng ma túy, lúc này Q đưa cho chị ống húng và đĩa sứ đựng ma túy chị đã sử dụng 02 đường “Ke” và bị say ma túy nên ngủ thiếp đi sau đó thấy lực lượng Công an đến kiểm tra lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa mọi người về trụ sở làm việc.
7
Người làm chứng chị Nguyễn Nhật L có lời khai: khoảng 3 giờ ngày 27/11/2023, chị nhận được điện thoại qua mạng xã hội Zalo của Đặng Thị Quỳnh T2 rủ chị qua số nhà D, phố T, phường K, thành phố M với mục đích sử dụng trái phép chất ma túy cùng với T2 và bạn bè của T2 và nói nếu sang thì được trả tiền 400.000 đồng/01 giờ, L đồng ý. Sau khi T2 gọi điện xong thì khoảng 5 phút sau có Đinh Văn Q có gọi điện thoại qua mạng xã hội Z và nói có sang chơi sử dụng ma túy không thì Q sang đón, L nói là L tự bắt xe taxi sang được.
Khoảng 04 giờ cùng ngày L bắt xe taxi đến số nhà S, phố T, phường K, thành phố M và gọi điện thoại cho T2 thì Q xuống mở cửa và đưa chị lên phòng tầng 3 ngôi nhà, tại đây thì thấy có H, Đ, G, Phương A và S, C2 đang ngồi trong phòng nghe nhạc. Lúc này chị L thấy C2 đang ngồi pha ma túy nước vui ở trong cốc trà sữa. Sau khi pha xong ma túy nước vui, C2 chia ra và mời mỗi người một cốc, chị L cũng được mời uống một ngụm và thấy có một địa sứ đựng ma túy loại Ketamine để trên loa ở bàn DJ và tự lấy ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng kẻ 03 đường ke sử dụng và thấy Q cùng mọi người cũng sử dụng và đi ngủ.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày khi tỉnh dậy và xuống tầng 01 ăn cơm, sau khi ăn cơm xong chị lên phòng tầng 3 thì thấy có ma túy nước vui và Ketamine để trên bàn DJ thì tiếp tục sử dụng 01 ngụm nước vui và 05 đường ke. Sau đó, L về phòng trọ tại phường N. Đến khoảng 17 giờ ngày 28/11/2023, chị quay lại nhà số D, phố T, phường K, thành phố M và ngủ tại đây, đến khoảng 16 giờ cùng ngày khi L đang ngủ thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện mọi người sử dụng ma túy.
Người làm chứng chị Trịnh Bảo C1 có lời khai: vào khoảng 01 giờ ngày 26/11/2023 đến ngày 28/11/2023 chị có được sử dụng trái phép chất ma túy loại nước vui và Ketamine với bạn là V, T2, L và Đ, C2, Q tại số nhà D, phố T, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì chị về nhà trọ, sau đó sự việc như thế nào chị không nắm được.
Người làm chứng chị Vũ Thị H3 có lời khai: chị H3 là chủ của căn nhà số D, phố T, phường K, thành phố M. Vào khoảng tháng 3/2023 chị có cho Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1994. Nơi thường trú: tổ C, khu E, phường B, thành phố H thuê với mục đích để ở. Hai bên có làm hợp đồng viết tay, tuy nhiên do lâu ngày lên chị H3 làm mất hợp đồng. Trong quá trình Đ thuê nhà chị ở cùng với ai và làm gì chị không nắm được vì chị cho Đ thuê cả nhà nên việc Đ ở với ai hay cho ai ở là tùy Đ. Đến ngày 29/11/2023 Cơ quan điều tra công an thành phố M thông báo cho chị biết việc Đ cùng một số đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà chị cho Đ thuê thì chị mới biết. Quan điểm của chị đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 1684/CT-VKSMC ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ
8
luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 09 năm 03 tháng đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
- - Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
- - Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn Q từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 255 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử bị cáo Đặng Thị Quỳnh T2 từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- - Tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) hộp niêm phong số 1704/KL-KTHS (số A) hoàn lại sau giám định của phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (một) hộp niêm phong số 9531/KL-KTHS hoàn lại sau giám định của V1 Bộ C3; 01 (một) cốc nhựa, trong suốt hình chóp cụt, đường kính miệng cốc khoảng 9,5cm, đường kính đáy cốc khoảng 5,5cm; 01 (một) chiếc quần đùi xanh, đen đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu ghi, số I: 359824370779357, bên trong gắn sim số 0813853333, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, số I: 355587496504418, bên trong gắn sim số
9
0966581993, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, số I: 35434718886375, bên trong gắn sim số 0344510616, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, số Imel: 357414193298710, bên trong gắn sim số 0376251152, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đỏ, số I: 3539777107167407, bên trong gắn sim số 0913987991, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số I: 358547326825344, bên trong gắn sim số 0328899035, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 02 chiếc loa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc đèn màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) ấm đun nước màu đen bạc đã qua sử dụng.
- Phần tranh luận:
Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát.
Quan điểm bào chữa của luật sư đối với bị cáo Đặng Thị Quỳnh T2: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức còn hạn chế nên giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về chứng cứ: tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H, Đinh Văn Q và Đặng Thị Quỳnh T2 hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi
10
phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
[3] Như vậy căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: trong các ngày 26, 27, 28 và 29 tháng 11 năm 2023, tại phòng ngủ tầng 2 ngôi nhà số D đường T thuộc khu D, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H có hành vi nhiều lần tổ chức cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam và Ketamine và nhiều lần tổ chức cho Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2, Nguyễn Văn S, Nguyễn Phương A, Nguyễn Nhật L và Trịnh Bảo C1 sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong đó, Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2 có hành vi tổ chức cho Nguyễn Nhật L sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 27/11/2023. Ngoài ra, Nguyễn Minh Đ còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,246933gam Methamphetamine, 3,463138gam MDMA và 0,737567gam Nimetazepam mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh Đ còn phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;”...
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...i) Có hai chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo:
11
Ma túy là một loại độc dược rất nguy hiểm, nó tàn phá, hủy hoại sức khỏe, nhân cách và tính mạng con người, làm lây truyền các căn bệnh hiểm nghèo và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Nhà nước quy định độc quyền quản lý chất ma túy, bất cứ ai vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị.
Bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H, Đinh Văn Q và Đặng Thị Quỳnh T2 là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy và điều cấm của pháp luật. Nhưng do tu dưỡng, rèn luyện bản thân kém, bất chấp điều cấm của pháp luật nên đã tìm mua ma túy để tàng trữ, tổ chức sử dụng cho bản thân và cho người khác. Hành vi của các bị cáo không những vi phạm quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt.
[4] Xét về vai trò của bị cáo: đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công cụ thể, bị cáo Đ là người đứng ra thuê nhà để ở cùng với các bị cáo Nguyễn Trường G, Bùi Văn H, Đinh Văn Q. Các bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H có hành vi nhiều lần tổ chức cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý và nhiều lần tổ chức cho Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2, Nguyễn Văn S, Nguyễn Phương A, Nguyễn Nhật L và Trịnh Bảo C1 sử dụng trái phép chất ma tuý trong các ngày 26, 27 và 28/11/2023. Ngoài ra, Nguyễn Minh Đ còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý và sử dụng trái phép chất ma tuý”. Do đó, bị cáo Đ giữ vai trò chính phải chịu mức hình phạt cao nhất, bị cáo Nguyễn Trường G, Bùi Văn H đứng vai trò sau Đ. Tiếp đến bị cáo Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2 có hành vi tổ chức cho Nguyễn Nhật L sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 27/11/2023 nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với vai trò phạm tội của từng bị cáo.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
- - Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
- - Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo Nguyễn Trường G, Bùi Văn H, Đinh Văn Q, Đặng Thị Quỳnh T2 có nhân thân tốt, tiền án tiền sự chưa có. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự có thể phạt các bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước nhưng xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về xử lý vật chứng: đối với 01 (một) hộp niêm phong số 1704/KL-KTHS (số A) hoàn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (một) hộp niêm
12
phong số 9531/KL-KTHS hoàn lại sau giám định của V1 Bộ C3. Xét đây là chất Nhà nước cấm nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu ghi, số I: 359824370779357, bên trong gắn sim số 0813853333, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, số I: 355587496504418, bên trong gắn sim số 0966581993, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, số I: 35434718886375, bên trong gắn sim số 0344510616, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, số Imel: 357414193298710, bên trong gắn sim số 0376251152 điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đỏ, số I: 3539777107167407, bên trong gắn sim số 0913987991, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số I: 358547326825344, bên trong gắn sim số 0328899035, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Xét bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) cốc nhựa, trong suốt hình chóp cụt, đường kính miệng cốc khoảng 9,5cm, đường kính đáy cốc khoảng 5,5cm; 01 (một) chiếc quần đùi xanh, đen đã qua sử dụng. Xét đây là vật chứng vụ án và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 02 chiếc loa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc đèn màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) ấm đun nước màu đen bạc đã qua sử dụng. Xét đây vật chứng vụ án nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Các tình tiết khác của vụ án: đối với người phụ nữ bán ma tuý nước vui cho Nguyễn Minh Đ tại Đ, Trung Quốc, quá trình điều tra chưa có căn cứ xác định lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
Các đối tượng C2, N, K, X, V là những người có mặt tại nhà số D phố T, phường K trong các ngày từ 26/11/2023 đến 29/11/2023. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với chị Vũ Thị H3, là chủ nhà số D T, khu D, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và chị Phạm Trần Thảo N1 (sinh năm 2001, trú tại: tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) là người có căn cước công dân bám dính chất ma tuý Ketamine bị thu giữ khi kiểm tra. Quá trình điều tra xác định: chị H3 cho Nguyễn Minh Đ thuê nhà từ tháng 3/2023 và không biết Đ cùng những người khác sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà trọ của mình, còn chị N1 để quên căn cước công dân trên tại phòng của Nguyễn Trường G và không biết căn cước công dân của mình được dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ để xử lý đối với chị H3 và chị N1.
13
Ngoài ra, quá trình điều tra không xác định được nguồn gốc số ma tuý 0,048gam Ketamine trên đĩa sứ (kí hiệu M3), 2,759gam Ketamine (kí hiệu M7) cùng số ma tuý Ketamine bám dính trên thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Trần Thảo N1 và các tờ tiền thu giữ khi kiểm tra nhà số D T, khu D, phường K, thành phố M. Vì vậy, ngày 28/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M ra quyết định tách vụ án hình sự số 542/QĐ-ĐCSMT để tiếp tục điều tra đối với vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, phát hiện ngày 29/11/2023, tại khu D, phường K, thành phố M.
Quá trình điều tra xác định: các đối tượng S, Phương A, L và C1 đều có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, Cơ quan điều tra đang hoàn thiện hồ sơ, xử phạt hành chính theo quy định.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn Q 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
14
Xử phạt bị cáo Đặng Thị Quỳnh T2 27 (hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- +) Tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) hộp niêm phong số 1704/KL-KTHS (số A) hoàn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (một) hộp niêm phong số 9531/KL-KTHS hoàn lại sau giám định của V1 Bộ C3; 01 (một) cốc nhựa, trong suốt hình chóp cụt, đường kính miệng cốc khoảng 9,5cm, đường kính đáy cốc khoảng 5,5cm; 01 (một) chiếc quần đùi xanh, đen đã qua sử dụng.
- +) Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của Đinh Văn Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh;
- +) Trả lại cho Nguyễn Minh Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu ghi, số I: 359824370779357, bên trong gắn sim số 0813853333, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, số I: 355587496504418, bên trong gắn sim số 0966581993, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong
- +) Trả lại cho Bùi Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, số I: 35434718886375, bên trong gắn sim số 0344510616, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số I: 357414193298710, bên trong gắn sim số 0376251152, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đỏ, số I: 3539777107167407, bên trong gắn sim số 0913987991, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong;
- +) Trả lại cho Đặng Thị Quỳnh T2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số I: 358547326825344, bên trong gắn sim số 0328899035, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 02 chiếc loa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc đèn màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) ấm đun nước màu đen bạc, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng số 128/2024/THA ngày 06/9/2024 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
- Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Trường G, Bùi Văn H, Đinh Văn Q và Đặng Thị Quỳnh T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt nguyễn minh Đức 8 năm tù
