|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27-9-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Vũ Văn Thi
Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh, Thư ký Toà án nhân dân
huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị L; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Văn C; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Hiện đang chấp hành án tại Đ, Phân trại số C - Trại giam X, huyện T, thàn phố H); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Ngô Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Văn C trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 25 tháng 8 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Sau đó anh C vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam X. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn C.
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Trần Thị Thùy L1, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2012 và Trần Đức M, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2016. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 9 năm 2024 bị đơn anh Trần Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống anh C trình bày như lời khai của chị L. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị L và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị L được ly hôn.
Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung như chị L đã trình bày, ly hôn anh C đồng ý giao hai con chung Trần Thị Thùy L1 và Trần Đức M cho chị L nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành các quy định tại các điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56 và 58 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị L được ly hôn anh Trần Văn C. Về con chung: Giao con chung Trần Thị Thùy L1, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2012 và Trần Đức M, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2016 cho chị Ngô Thị L trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Ngô Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Ngô Thị L khởi kiện ly hôn đối với anh Trần Văn C, yêu cầu khởi kiện của chị L thuộc trường hợp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Văn C có địa chỉ cư trú trước khi chấp hành án tại xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Ngô Thị L và bị đơn anh Trần Văn C đều có đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Ngô Thị L và bị đơn anh Trần Văn C.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Chị Ngô Thị L và anh Trần Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 25 tháng 8 năm 2011, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Hiện chị L và anh C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đều có quan điểm đề nghị giải quyết ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị L và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị L và anh C là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị Ngô Thị L và anh Trần Văn C có hai con chung là Trần Thị Thùy L1, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2012 và Trần Đức M, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2016. Xét, con Trần Thị Thùy L1 và Trần Đức M chưa đủ 18 tuổi nên việc nuôi dưỡng con chung sau ly hôn là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ. Chị L và anh C đều có quan điểm giao hai con chung Trần Thị Thùy L1 và Trần Đức M cho chị L nuôi dưỡng. Xét, hiện tại các con chung do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, các con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ nên quan điểm của chị L và anh C về người trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn là có căn cứ chấp nhận và phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về việc tài sản chung: Chị Ngô Thị L và anh Trần Văn C đều có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Ngô Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị L được ly hôn anh Trần Văn C.
- Về con chung: Giao con chung Trần Thị Thùy L1, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2012 và Trần Đức M, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2016 cho chị Ngô Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng và tài sản chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Ngô Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Ngô Thị L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008531 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả C thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
4
Bản án số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 99/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lợi + Chung
