|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 27-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Thu Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hoàng Thị Hồng;
- Ông Nguyễn Văn Môn.
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Viết C, sinh năm 1982; tên gọi khác: Không có
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1944; con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ thứ nhất: Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (đã ly hôn); vợ thứ hai: Hoàng Thị T1, sinh năm 1990; có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo C: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1944; địa chỉ: Thôn Y, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo C: Luật sư Hà Đình T2, thuộc Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Chị Lê Thị M1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Anh Đỗ Văn C2, sinh năm 1975 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Chãng, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Nơi ĐKHKTT: Xóm Cầu Gai, xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở: Thôn Ba, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Chùa, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
Anh Cao Anh C3, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà I, đê C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/8/2023, Nguyễn Viết C thuê ngôi nhà của gia đình anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1980, ở đường V, thôn B, xã T, thành phố B để mở quán cà phê thư giãn “Điểm hẹn”. Cương thuê nhân viên nữ phục vụ tại quán. Để có thêm thu nhập, C vừa môi giới mại dâm vừa cho nhân viên nữ bán dâm cho khách tại quán.
Khoảng tháng 11/2023, Nguyễn Thị C1, sinh năm 1990 (tên gọi khác là Q), trú tại thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến quán của C làm nhân viên. C và C1 thỏa thuận ngoài làm công việc của nhân viên phục vụ thì C1 sẽ bán dâm cho khách có nhu cầu tại quán, Cương trực tiếp thỏa thuận với khách đến mua dâm với giá 250.000 đồng trong 01 lần mua dâm; C1 thu tiền bán dâm của khách rồi đưa lại cho C; C1 được hưởng 130.000 đồng còn C được hưởng 120.000 đồng.
Nguyễn Viết C quen biết với Lê Thị M1, sinh năm 1979 (tên gọi khác là M2), trú tại thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (hiện thuê trọ tại nhà bà Dương Thị T4, sinh năm 1965 ở thôn B, xã T, thành phố B). C và M1 thỏa thuận với nhau nếu có khách hỏi mua dâm thì C sẽ đưa đến phòng trọ của M1 để M1 trực tiếp bán dâm; Cương thu của khách 250.000 đồng trong 01 lần mua dâm và trả cho M1 150.000 đồng còn C được hưởng 100.000 đồng.
Kết quả điều tra xác định hành vi phạm tội của bị can Nguyễn Viết C cụ thể như sau:
I. Hành vi chứa mại dâm
Khoảng 11 giờ ngày 22/01/2024, Cao Anh C3, sinh năm 1975, trú tại số nhà I, đê C, phường L, thành phố B cùng Đỗ Văn C2, sinh năm 1975, trú tại
thôn C, xã Đ, thành phố B và Phan Văn T5, sinh năm 1968, trú tại thôn H, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang sau khi uống bia rủ nhau đến quán cà phê thư giãn “Điểm hẹn” của Nguyễn Viết C để mua dâm. C3 gọi điện thoại cho C đặt vấn đề mua dâm với nhân viên nữ tại quán thì C đồng ý. Sau đó, C gọi điện thoại cho Nguyễn Thị C1 bảo đi đến quán để bán dâm cho khách. C cũng gọi điện thoại cho Lê Thị M1 thông báo có khách mua dâm và hẹn sẽ đưa đến phòng trọ của M1 để mua dâm thì M1 đồng ý.
Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Cao A C3 cùng Đỗ Văn C2 và Phan Văn T5 đi taxi đến quán C5 “Điểm hẹn” gặp Nguyễn Viết C đặt vấn đề mua dâm. C nói chỉ có hai nhân viên nữ bán dâm, giá mua dâm là 250.000đồng/01người thì ba người đồng ý và thống nhất Đỗ Văn C2 và T5 sẽ mua dâm trước còn C3 mua dâm sau. Nguyễn Viết C bảo Đỗ Văn C2 mua bán dâm với C1 tại quán; C2 sẽ đưa T5 sang phòng trọ gần đó để mua bán dâm với M1.
Sau khi thỏa thuận xong, Đỗ Văn C2 và Nguyễn Thị C1 đi vào trong quán đóng cửa lại rồi đi đến phòng ngủ để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đỗ Văn C2 trả cho C1 tiền mua dâm là 250.000 đồng và cho thêm 100.000 đồng. C2 đưa cho C1 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, C1 không đủ tiền nên chỉ trả lại Cương 140.000 đồng. Hai người tự cởi quần áo rồi lên giường nằm. C1 lấy trong túi xách một chiếc bao cao su, bóc vỏ và đưa cho C2. C2 sử dụng bao cao su rồi cùng C1 quan hệ tình dục. Khi C2 và C1 đang quan hệ tình dục thì bị tổ công tác Công an thành phố B kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang.
Cơ quan điều tra thu giữ: 01 vỏ bao su nhãn hiệu Vip; 01 chiếc bao cao su, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu hồng, lắp sim số 0869730610, có ốp nhựa, đã qua sử dụng; số tiền 140.000đ; 01 chiếc camera nhãn hiệu Viettel, không có thẻ nhớ lắp đặt trong quán.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp quán cà phê thư giãn “Điểm hẹn” của Nguyễn Viết C thu giữ:
- + 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 Prime, lắp sim số: 0946.935.277 và 0373.345.056 đã qua sử dụng của Nguyễn Viết C.
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP A3S đã qua sử dụng của Đỗ Văn C2.
- + Số tiền 505.000 đồng của Nguyễn Viết C.
- + 01 chiếc túi xách có quai đeo, màu đen, bên trong có đựng nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau; 05 chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng của Nguyễn Thị C1.
- + 01 hộp bao cao su bên trong có đựng nhiều chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus chưa qua sử dụng, thu giữ trong phòng ngủ.
- + 01 chiếc xe máy biển số 98B1-115.32 của Nguyễn Viết C.
- + 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu 133S không biển số của Nguyễn Thị C1.
II. Hành vi môi giới mại dâm
Sau khi Đỗ Văn C2 và Nguyễn Thị C1 vào trong quán để mua bán dâm thì Nguyễn Viết C điều khiển xe mô tô BKS 98B1-115.32 chở Phan Văn T5 đến phòng trọ của Lê Thị M1 ở thôn B, xã T, thành phố B để T5 mua dâm với M1. Đến nơi, C gõ cửa phòng thì M1 đi ra mở cửa. C bảo Toàn vào trong phòng để mua dâm với M1. T5 đưa cho C 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng để trả tiền mua dâm. C nhận tiền và trả lại T5 250.000 đồng. Do M1 vẫn còn nợ C 50.000 đồng trước đó nên C trừ nợ và đưa cho M1 100.000 đồng tiền bán dâm. Sau khi thanh toán xong, C điều khiển xe máy đi về quán. T5 cho thêm Man 100.000 đồng tiền mua dâm và đưa cho M1 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng thì M1 trả lại 100.000 đồng. Hai người cởi quần áo và nằm trên giường trong phòng. M1 lấy ra chiếc bao cao su nhãn hiệu Water Lotus để trên giường để T5 sử dụng khi quan hệ tình dục. Khi T5 và M1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị tổ công tác Công an thành phố B kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang.
Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 Core, gắn sim số 0335.902.466 và số tiền 200.000 đồng của Lê Thị M1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6+ không lắp sim; số tiền 100.000 đồng của Phan Văn T5.
Ngày 22/01/2024, Cao Anh C3 tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1600, màu đen-xám, gắn sim số 0388.022.862.
Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại của Nguyễn Viết C xác định:
- + Tại mục nhật ký điện thoại trong ngày 22/01/2024 có các cuộc giữa thuê bao 0946.935.227 và 0373.345.056 của C với các thuê bao 0388022862 của C3 lưu danh bạ là “Anh Chiến Khách Q1 Điểm Hẹn”.
- + Tại mục nhật ký điện thoại trong ngày 22/01/2024 có liên lạc với thuê bao 0869.730.xxx của C1 lưu danh bạ là “Quình Nv Quán” và với thuê bao 0335902466 của M1 lưu danh bạ là “Mai Lan Nv Q2”;
- + Tại mục “Viettel Home” điện thoại của Nguyễn Viết C có lưu giữ 04 video quay tại phòng khách của quán vào ngày 22/01/2024.
Kiểm tra số tiền thu giữ của Nguyễn Viết C xác định trong số 505.000 đồng có 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số seri QQ 09867865. Kiểm tra số tiền trong túi xách của Nguyễn Thị C1 xác định có số tiền 3.075.000 đồng trong đó có 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số seri OR 15530623.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu OPP A3S của Đỗ Văn C2 thấy tại thư mục ảnh có một ảnh chụp tờ tiền 500.000 đồng có số sê ri OR 15530623; kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6+ của Phan Văn T5 thấy tại thư mục ảnh có một ảnh chụp tờ tiền 500.000 đồng có số seri QQ
09867865. C2 và T5 khai đây là tiền sử dụng để thanh toán mua dâm. Số seri tờ tiền trong ảnh điện thoại của Đỗ Văn C2 trùng khớp với số seri tờ tiền thu giữ của Nguyễn Viết C; Số seri tờ tiền trong ảnh điện thoại của Phan Văn T5 trùng khớp với số seri tờ tiền thu giữ của Nguyễn Thị C1.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định hình ảnh các tờ tiền 500.000 đồng trong điện thoại của Đỗ Văn C2 và Phan Văn T5; trưng cầu giám định chiếc bao cao su đã qua sử dụng thu tại quán cà phê của Nguyễn Viết C và 04 file video thu giữ trong điện thoại của C.
Kết luận giám định số 271/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
- - Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file hình ảnh có tên “IMG20240122120731.jpg, dung lượng: 2,27MB (nội dung hiển thị tờ tiền mệnh giá 500.000đồng có số sê ri OR15530623); ngày tạo file 22/01/2024 lưu trữ trong chiếc điện di động nhãn hiệu OPP A3s vỏ màu đỏ gửi giám định.
- - Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file hình ảnh có tên “IMG20240122_121005.jpg dung lượng: 4,01MB (nội dung hiển thị tờ tiền mệnh giá 500.000đồng có số sê ri QQ 09867865); ngày tạo file 22/01/2024 lưu trữ trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6+ màu vàng gửi giám định.
Kết luận giám định số 662/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của V Bộ C6, kết luận:
- - Không phát hiện thấy tinh trùng người trên chiếc bao cao su gửi giám định.
- - Trên chiếc bao cao su gửi giám định có ADN của cả Nguyễn Thị C1 và Đỗ Văn C2.
- - Lưu kiểu gen của Nguyễn Thị C1 và Đỗ Văn C2 tại V Bộ C6.
Kết luận giám định số 554/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
- - Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu giữ trong đĩa DVD-R gửi giám định
- - Trích xuất được 12 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các video gửi giám định.
Cơ quan điều tra cho Cao Anh C3, Đỗ Văn C2, Nguyễn Viết C quan sát video và các ảnh giám định. Kết quả tất cả đều xác định có hình ảnh Cao Anh C3, Nguyễn Viết C, Đỗ Văn C2, Phan Văn T5 và Nguyễn Thị C1 có mặt tại phòng khách quán cà phê thư giãn điểm hẹn ngày 22/01/2024 để thỏa thuận giao dịch mua bán dâm với Nguyễn Viết C.
Cơ quan điều tra cho Cao Anh C3, Đỗ Văn C2, Phan Văn T5, Nguyễn Thị C1 và Lê Thị M1 nhận dạng Nguyễn Viết C qua ảnh. Kết quả tất cả đều nhận
đúng ảnh và xác định Nguyễn Viết C cho Nguyễn Thị C1 bán dâm với Đỗ Văn C2 tại quán cà phê thư giãn điểm hẹn và môi giới cho Lê Thị M1 bán dâm với Phan Văn T5 tại phòng trọ của M1.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định tình trạng tâm thần của bị can C2. Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 32 ngày 27/3/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận:
- Nguyễn Viết C, sinh năm 1982, trú tại thôn Y, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid, có mã F20.0, giai đoạn khỏi bệnh (Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loại tâm thần và hành vi).
- Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/01/2024, Nguyễn Viết C bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid, có mã F20.0, giai đoạn khỏi bệnh. NguyễnViết C đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
- Hiện tại (thời điểm giám định) Nguyễn Viết C bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid, có mã F20.0, giai đoạn khỏi bệnh. Nguyễn Viết C đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Trong quá trình điều tra, bị can Nguyễn Viết C khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Theo Nguyễn Thị C1 khai trước khi bị phát hiện đã một số lần bán dâm tại quán nhưng không xác định được thời gian cụ thể và cũng không biết thông tin người đến mua dâm. Bị can C khai cho C1 bán dâm một lần vào ngày 22/01/2024 . Hiện nay, C1 không có mặt tại địa phương nên không đối chất được. Căn cứ kết quả điều tra đủ cơ sở chứng minh Cương chứa mại dâm 01 lần vào ngày 22/01/2024.
Về xử lý các đối tượng có liên quan:
Đối với Nguyễn Thị C1, Lê Thị M1, Đỗ Văn C2 có hành vi mua bán dâm đã bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với đối tượng mua dâm tự khai là Phan Văn T5, sinh năm 1968, trú tại thôn H, xã M, huyện L. Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa phương nhưng không có thông tin như trên nên không xử lý được.
Về xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, Galaxy A6 thu giữ của đối tượng tự khai là Phan Văn T5 được tách ra để xử lý sau. Vật chứng còn lại được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 91/CT- VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố Nguyễn Viết C về các tội: “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự và tội “Môi giới mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai: Cáo trạng truy tố bị cáo với hành vi “Chứa mại dâm” và “Môi giới mại dâm” là hoàn toàn đúng. Bị cáo đồng ý cho Nguyễn Thị
C1 bán dâm tại quán của mình, mỗi lần bán dâm thu 250.000 đồng, bị cáo hưởng lợi 120.000 đồng. Ngoài ra bị cáo còn đưa khách mua dâm sang phòng trọ của Lê Thị M1 để mua dâm với M1, nếu thu được của khách mua dâm 250.000 đồng thì bị cáo hưởng lợi 100.000 đồng, nếu thu 200.000 đồng thì bị cáo hưởng 50.000 đồng. Bị cáo rất hối hận về hành vi đã làm, do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo, ông Hoàng Văn M3 trình bày: Gia đình ông có hoàn cảnh rất khó khăn, vợ chồng ông tuổi cao, già yếu, bị cáo có con còn nhỏ, bản thân bị cáo có bệnh vẫn đang phải điều trị nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng nhưng vắng mặt, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện VKSND thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1,5 Điều 327; khoản 1 Điều 328; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Viết C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Chứa mại dâm” Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Xử phạt từ 07 đến 09 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/01/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung Ngân sách: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 Prime, lắp sim số: 0946935277 và 0373345056, đã qua sử dụng thu của C; Số tiền 360.000 đồng của Nguyễn Thị C1; Số tiền 200.000 đồng của Lê Thị M1; Số tiền 150.000 đồng của bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao su nhãn hiệu Vip; 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng, 01 chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng; 01 chiếc túi xách có quai đeo, màu đen, bên trong có đựng 05 chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng; 01 hộp bao cao su bên trong có đựng nhiều chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng;
Trả lại:
- - Nguyễn Thị C1 số tiền 2.715.000 đồng, 01 chiếc xe máy điện hai bánh nguyên chiếc, nhãn hiệu 133S, màu sơn: đỏ-đen, không đeo biển số, đã qua sử dụng.
- - Bị cáo số tiền 355.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu hồng, có ốp nhựa, đã qua sử dụng; 01 chiếc camera nhãn hiệu
Viettel, không có thẻ nhớ, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đỗ Văn C2 số tiền 140.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP A3s.
- - Nguyễn Thị M4 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03, lắp sim số: 0335902466 đã qua sử dụng.
- - Cao Anh C3: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1600, lắp sim số 0388022862.
- - Nguyễn Thị H 01 xe máy BKS 98B1-115.32
* Về án phí: Áp dụng Điều 136; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày bài bào chữa: Không có ý kiến gì về tội danh và điều luật áp dụng. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già yếu, con nhỏ, bản thân bị cáo bị bệnh nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án như Viện kiểm sát đề nghị, nhưng cho hưởng án treo.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, không bổ sung gì với bài bào chữa của luật sư.
Đại diện Viện kiểm sát và luật sư vẫn giữ nguyên quan điểm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng gì đến quá trình xét xử. Căn cứ vào Điều
292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với vật chứng và thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Trên cơ sở lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Nguyễn Viết C thuê địa điểm và mở quán cà phê thư giãn “Điểm hẹn” ở thôn B, xã T, thành phố B. Cương thỏa thuận với Nguyễn Thị C1 là nhân viên phục vụ nếu có khách đến mua dâm thì sẽ để C1 bán dâm tại quán; C thoả thuận với Lê Thị M1 nếu có khách đến mua dâm thì C sẽ môi giới rồi đưa đến phòng trọ của M1 ở thôn B, xã T, thành phố B để mua bán dâm; Cương thu của khách mua dâm là 250.000 đồng; trả cho C1 130.000 đồng và trả cho M1 150.000 đồng cho mỗi lần bán dâm.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, Cao Anh C3, Đỗ Văn C2 và Phan Văn T5 đến quán của Nguyễn Viết C để mua dâm. C cho Nguyễn Thị C1 và Đỗ Văn C2 mua bán dâm tại quán do C2 quản lý; Đỗ Văn C2 trả cho C1 250.000 đồng tiền mua dâm.
Sau đó, Nguyễn Viết C đi xe máy BKS 98B1-115.32 chở Phan Văn T5 đến phòng trọ của Lê Thị M1 để T5 và M1 mua bán dâm với nhau. C đã thu của T5 250.000 đồng. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại hai địa điểm trên thì bị Công an thành phố B bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, đồng thời xâm phạm đến thuần phong mỹ tục, nếp sống văn minh, đạo đức xã hội của dân tộc, ngoài ra còn là nguy cơ lây lan các loại bệnh xã hội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” quy định khoản 1 Điều 327 của BLHS và tội “Môi giới mại dâm” quy định khoản 1 Điều 328 của BLHS. Cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3.1] Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qúa trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người phạm tội có bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid, có mã F20.0 nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, q khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
[3.2] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, phạm nhiều tội trong cùng lần xét xử, nên cần buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy Kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là phù hợp.
Đối với đề nghị của bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận.
[3.3] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội để thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với tội “Chứa mại dâm”, phạt bị cáo một khoản tiền để sung ngân sách Nhà nước.
[4] Vật chứng của vụ án:
- - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 Prime, lắp sim số: 0946935277 và 0373345056, đã qua sử dụng thu của bị cáo C; Số tiền 360.000 đồng của Nguyễn Thị C1; Số tiền 200.000 đồng của Lê Thị M1; Số tiền 150.000 đồng của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- - 01 vỏ bao su nhãn hiệu Vip; 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng, 01 chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng; 01 chiếc túi xách có quai đeo, màu đen, bên trong có đựng 05 chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng; 01 hộp bao cao su bên trong có đựng nhiều chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy
- - Số tiền 2.715.000 đồng, 01 chiếc xe máy điện hai bánh nguyên chiếc, nhãn hiệu 133S, màu sơn: đỏ-đen, không đeo biển số, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị C1 trả lại chị C1.
- - Số tiền 355.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu hồng, có ốp nhựa, đã qua sử dụng; 01 chiếc camera nhãn hiệu Viettel, không có thẻ nhớ, đã qua sử dụng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Số tiền 140.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP A3s của Đỗ Văn C2 không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại Đỗ Văn C2.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03, lắp sim số: 0335902466, đã qua sử dụng thu của M1 không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại Lê Thị M1.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1600, lắp sim số 0388022862 của Cao Anh C3 không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại anh C3.
- - 01 xe máy BKS 98B1-115.32 của chị Nguyễn Thị H trả lại chị H.
[5] Đối với những vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thị C1, Lê Thị M1, Đỗ Văn C2 có hành vi mua bán dâm đã bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng quy định.
Đối với đối tượng mua dâm tự khai là Phan Văn T5, sinh năm 1968, trú tại thôn H, xã M, huyện L. Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa phương nhưng không có thông tin như trên nên không xử lý được.
[6] Về án phí: Bị cáo là người bị khuyết tật nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Do bị cáo đang bị tạm giam nên căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của BLTTHS, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1, 5 Điều 327; khoản 1 Điều 328 điểm s, q khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết C 01(Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước. Xử phạt 09 (C4) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Áp dụng Điều 55 của BLHS buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 Prime, lắp sim số: 0946935277 và 0373345056, đã qua sử dụng thu của C; Số tiền 360.000 đồng của Nguyễn Thị C1; Số tiền 200.000 đồng của Lê Thị M1; Số tiền 150.000 đồng của bị cáo C.
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao su nhãn hiệu Vip; 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng, 01 chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng; 01 chiếc túi xách có quai đeo, màu đen, bên trong có đựng 05 chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng; 01 hộp bao cao su bên trong có đựng nhiều chiếc bao su nhãn hiệu Water Lotus, chưa qua sử dụng.
Trả lại chị Lê Thị M1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03, lắp sim số: 0335902466 đã qua sử dụng.
Trả lại chị Nguyễn Thị C1 số tiền 2.715.000 đồng, 01 chiếc xe máy điện hai bánh nguyên chiếc, nhãn hiệu 133S, màu sơn: đỏ-đen, không đeo biển số, đã qua sử dụng.
Trả lại bị cáo số tiền 355.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu hồng, có ốp nhựa, đã qua sử dụng; 01 chiếc camera nhãn hiệu Viettel, không có thẻ nhớ, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại anh Đỗ Văn C2 số tiền 140.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP A3s.
Trả lại anh Cao Anh C3: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1600, lắp sim số 0388022862.
Trả lại chị Nguyễn Thị H 01 xe máy BKS 98B1-115.32
4. Án phí: Áp dụng Điều 136; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Thu Thuỷ |
12
13
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (chứa mại dâm và môi giới mại dâm)
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGuyễn Viết Cương
