|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-4-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Biên Ải
Bà Phạm Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Kiều L, sinh năm 2004; Địa chỉ cư trú: số H, đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Lâm Vũ B, sinh năm 1999; Địa chỉ cư trú: khóm A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Chị Đoàn Thị Kiều L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị L chung sống với anh B vào năm 2021, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau vào ngày 14/02/2023. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau dần xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn gắn bó yêu thương nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh B.
- Về con chung: Có một con chung Lâm Bảo P, sinh ngày 07/10/2022. Khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng từ ngày xét xử đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với anh Lâm Vũ B:
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh B hợp lệ nhưng anh B không có ý kiến hay yêu cầu gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Chị Đoàn Thị Kiều L có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Lâm Vũ B đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.
[2] Về hôn nhân: Chị L và anh B kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống chị L xác định vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, cuộc sống hôn nhân luôn trong tình trạng nặng nề, không hạnh phúc nên sống ly thân nhau, chị L xét thấy không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu ly hôn, anh B không có ý kiến phản đối yêu cầu này của chị L nên đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh chị có xảy ra và không ai mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị L được ly hôn với anh B là phù hợp.
[3] Về con chung: Xét về yêu cầu nuôi con của chị L thấy rằng, khi ly hôn cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, từ khi ly thân nhau đến nay, con chung do chị L nuôi dưỡng, chị vẫn đảm bảo cho con chung phát triển tốt. Mặt khác, cháu Lâm Bảo P chưa đủ 36 tháng tuổi và anh B cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu nuôi con của chị L nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con chung Lâm Bảo P cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị L thấy rằng, tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: “2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.”. Chị L yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp các quy định pháp luật. Ngoài ra, anh B cũng không phản đối yêu cầu này của chị L. Do đó, buộc anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 26/4/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định không có, không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là phù hợp.
[5] Về án phí: Theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng; Anh B phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1, 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Kiều L.
- Về hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị Kiều L được ly hôn anh Lâm Vũ B.
- Về con chung: Giao Lâm Bảo P1, sinh ngày 07/10/2022 cho chị Đoàn Thị Kiều L tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Buộc anh Lâm Vũ B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 26 tháng 4 năm 2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Anh Lâm Vũ B không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đoàn Thị Kiều L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000869 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (đã nộp xong).
- Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Lâm Vũ B phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); (chưa nộp).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Ngọc Trúc |
Bản án số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 99/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con và buộc cấp dưỡng
