|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2023/HS-ST Ngày: 25/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa :Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuý Hồng
Ông Nguyễn Đình Phùng.
Bà Nguyễn Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thanh Việt – Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2023/HSST-QĐ ngày 10 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh ngày: 10 tháng 12 năm 1986 tại Bình Định; nơi cư trú: ổ 29, KV. 4, P. N, Tp ., tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; con ông: Nguyễn Văn H – đã chết và bà Ung Thị M, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị Ái D, sinh năm 1987, có 02 người con, lớn nhất, sinh năm: 2010, nhỏ nhất, sinh năm: 2015; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 12/12/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Hoài S – Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt).
Bị hại:
- Lê Thanh C, sinh năm: 1991; vợ là Trần Lê Diễm Q; trú tại: Tổ G, KV. 9, P. N, Tp., Bình Định. (Có mặt).
- Nguyễn Thành L, sinh năm: 1994; trú tại: Tổ G, KV. 9, P. N, Tp ., Bình Định. (Có đơn xét xử vắng mặt).
- Huỳnh Ngọc H1, sinh năm: 1978; vợ là Mai Thị Ánh N1, sinh năm: 1988; đồng trú tại: Số A đường N, Tp ., tỉnh Bình Định. (Có mặt).
- Hồ Hữu C1, sinh năm: 1990; trú tại: Tổ G, KV. 9, P. N, Tp ., Bình Định. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Lê Thị Kim T, sinh năm: 1991; trú tại: Tổ I, KV. 7, P. B, Tp ., Bình Định. (Vắng mặt).
- Võ Văn P, sinh năm: 1992; trú tại: Tổ C, KV. 4, P. N, Tp ., Bình Định. (Vắng mặt).
- Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1970; trú tại: Tổ A, KV. 3, P. N, Tp ., Bình Định. (Vắng mặt).
- Nguyễn Thị Ái D, sinh năm: 1987; trú tại: Tổ C, KV. 4, P. N, Tp., Bình Định. (Vắng mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
Võ Thị Kim C2, sinh năm: 1991; trú tại: Căn hộ B chung cư X, Tp., tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu năm 2021, do làm ăn thua lỗ và chơi số đề dẫn đến nợ tiền của nhiều người nên Nguyễn Văn N nảy sinh ý định đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là GCNQSDĐ) đứng tên mình rồi đem thế chấp cho người khác vay tiền nhằm mục đích chiếm đoạt tiền. Trong thời gian từ tháng 04/2021 đến tháng 06/2022, N lên mạng xã hội Facebook đặt H3 làm giả 02 GCNQSDĐ với giá 06 triệu đồng/giấy. Sau khi nhận được GCNQSDĐ giả, N mang đi thế chấp để chiếm đoạt tiền của nhiều người. Ngoài ra, N còn đưa ra thông tin gian dối về việc tự làm được dịch vụ nhà đất để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác, cụ thể như sau:
- Đối với vợ chồng anh Lê Thanh C và chị Trần Lê Diễm Q.
Vợ chồng anh C, chị Q là hàng xóm cũ của N. Vào tháng 9/2021, N nói dối với vợ chồng anh C cần vay tiền để kinh doanh mua bán đất đai, thời gian vay từ 2 đến 3 tháng, lãi suất tiền vay 5%/tháng, thế chấp bằng GCNQSDĐ giả có số phát hành CT 812379 đứng tên Nguyễn Văn N. Do tin là thật nên vợ chồng anh C đã đồng ý cho N vay tiền 05 lần với tổng số tiền 530 triệu đồng. Cụ thể như sau: ngày 02/9/2021, cho vay 200 triệu đồng; ngày 10/9/2021, cho vay 50 triệu đồng; ngày 14/10/2021, cho vay 150 triệu đồng; tháng 11/2021, cho vay 80 triệu đồng; ngày 25/11/2021, cho vay 50 triệu đồng. Sau khi vay, N đã trả tiền gốc 100 triệu đồng và trả lãi nhiều lần với tổng số tiền 36.500.000 đồng.
Như vậy, trong thời gian từ tháng 9 đến tháng 11/2021, Nguyễn Văn N đã đưa ra nhiều thông tin gian dối để nhận của vợ chồng anh Lê Thanh C tổng số tiền 550 triệu đồng, đã trả lại 136.500.000 đồng, chiếm đoạt 413.500.000 đồng.
Ngoài ra, trong tháng 11/2021, Nhiều nói dối với vợ chồng anh C có quen biết với người làm được các dịch vụ giấy tờ nhà đất, hứa nhận giúp tách thửa đất đứng tên Trần Lê Thị Kim T (chị ruột của Q) với giá 40 triệu đồng. Vợ chồng anh C tin là thật, đã đưa GCNQSDĐ và CMND đứng tên Trần Lê Thị Kim T cho N và “ứng trước” cho Nhiều 20 triệu đồng, hẹn khi làm xong thủ tục giấy tờ sẽ đưa tiếp số tiền 20 triệu đồng còn lại. Sau khi nhận tiền, N không làm thủ tục tách sổ mà sử dụng GCNQSDĐ đứng tên chị T thế chấp cho vợ chồng anh Huỳnh Ngọc H1 vay 250 triệu đồng rồi chiếm đoạt.
- Đối với anh Nguyễn Thành L.
Nhiều và anh L là hàng xóm. Từ tháng 7/2021, N nói dối đang cần tiền lo lót làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất cho ông Tô Văn B nên hỏi vay tiền anh L. Lúc đầu hai bên thỏa thuận cho vay lãi suất 10%/tháng, sau đó Nhiều thống nhất với anh L sẽ không tính lãi mà đợi khi làm thủ tục xong, N mua lại của gia đình ông B với giá rẻ rồi phân lô bán nền, tiền lời kiếm được Nhiều sẽ ăn chia với anh L. Thời gian đầu, anh L không cần tài sản thế chấp, nhưng sau đó số tiền vay nhiều hơn nên N đã đưa cho anh L giữ 01 GCNQSDĐ giả có số phát hành CT 812804 để thế chấp. Do tin là thật nên anh L đã 03 lần đưa tiền cho N vay với tổng số tiền 320 triệu đồng. Cụ thể như sau: ngày 16/7/2021, cho vay 50 triệu đồng; ngày 13/8/2021, cho vay 100 triệu đồng; ngày 13/9/2021, cho vay 170 triệu đồng. Sau khi vay tiền, Nhiều đã trả lãi (đối với khoản vay 50 triệu đồng ngày 16/7/2021) 25 triệu đồng, số còn lại ciếm đoạt chiếm đoạt 295 triệu đồng.
- Đối với vợ chồng anh Huỳnh Ngọc H1 và chị Mai Thị Ánh N1.
Khoảng cuối tháng 11/2021, N gặp vợ chồng anh H1 hỏi vay 250 triệu đồng để thanh toán thi công công trình ở khu K. Nhiều nói dối có đứa em họ cho N mượn GCNQSDĐ để thế chấp vay tiền, nếu vợ chồng ông H1 đồng ý cho vay thì N sẽ đưa GCNQSDĐ để giữ làm tin. Ngày 01/12/2021, N đưa GCNQSDĐ và CMND đứng tên Trần Lê Thị Kim T cho vợ chồng H1, vợ chồng H1 giao cho N số tiền 250 triệu đồng. Hai bên thống nhất lãi suất tiền vay là 6%/tháng và thời hạn vay 90 ngày. Nhiều viết “Giấy mượn tiền” ngày 01/12/2021 N ký giấy mượn tiền và giả chữ ký chị Trần Lê Thị Kim T. Sau khi vay tiền, Nhiều bỏ trốn, chiếm đoạt 250 triệu đồng.
- Đối với anh Hồ Hữu C1.
Nhiều và anh Hồ Hữu C1 là hàng xóm. Biết gia đình anh C1 được Nhà nước cấp đổi 399m2 đất màu tại thửa đất số 86, tờ bản đồ số 3, phường N, thành phố Q nên vào khoảng tháng 7/2021, N nói dối sẽ giúp gia đình anh C1 chuyển mục đích thửa đất trên thành đất thổ cư với chi phí 350 triệu đồng. C1 giới thiệu Nhiều với gia đình và được cậu ruột tên Tô Văn B đại diện gia đình giao các giấy tờ cần thiết cho Nhiều. Do đó, anh C1 đã nhiều lần đưa tiền cho N, tổng cộng là 350 triệu đồng. Sau khi nhận tiền, N không thực hiện công việc như đã thỏa thuận mà bỏ trốn, chiếm đoạt 350 triệu đồng.
Như vậy, trong thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 12/2021, Nguyễn Văn N đã bằng nhiều thủ đoạn gian dối làm cho 04 bị hại tin là thật để giao tiền cho N, rồi chiếm đoạt tổng số tiền 1.308.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 116/CT-VKSBĐ-P2 ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội: Đề nghị căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N từ 12 đến 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, từ 03 đến 04 năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp 02 tội từ 15 đến 17 năm tù.
Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt là 1.308.500.000 đồng cho các bị hại.
Luật sư Lê Hoài S trình bày lời bào chữa: Thống nhất toàn bộ với Viện kiểm sát. Đề nghị xử phạt bị cáo với mức hình phạt 15 năm tù. Ngoài ra, không có ý kiến gì thêm.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Huỳnh Ngọc H1 yêu cầu bồi thường và xin giảm hình phạt cho bị cáo. Các bị hại khác yêu cầu bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Nguyễn Văn N đã thuê người làm giả và sử dụng 02 GCNQSDĐ giả để thế chấp vay tiền rồi chiếm đoạt của vợ chồng anh Lê Thanh C, chị Trần Lê Diễm Q số tiền 413.500.000 đồng và chiếm đoạt của anh Nguyễn Thành L số tiền 295.000.000 đồng. Đồng thời mang GCNQSDĐ đứng tên chị Trần Lê Thị Kim T và giả chữ ký của chị T để thế chấp vay tiền rồi chiếm đoạt của vợ chồng anh Huỳnh Ngọc H1, chị Mai Thị Ánh N1 số tiền 250.000.000 đồng. Bị cáo đưa ra thông tin gian dối về việc làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất để chiếm đoạt của anh Hồ Hữu C1 số tiền 350.000.000 đồng. Tổng cộng, số tiền bị cáo Nguyễn Văn N chiếm đoạt là 1.308.500.000 đồng.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nên cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thời gian dài, tương xứng với tính chất nguy hiểm do hành vi bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn N có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên phạm vào tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường toàn bộ số tiền 1.308.500.000 đồng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ nên HĐXX chấp nhận. Do đó bị cáo phải bồi thường cho vợ chồng anh Lê Thanh C, chị Trần Lê Diễm Q số tiền 413.500.000 đồng; anh Nguyễn Thành L số tiền 295.000.000 đồng; vợ chồng anh Huỳnh Ngọc H1, chị Mai Thị Ánh N1 số tiền 250.000.000 đồng; anh Hồ Hữu C1 số tiền 350.000.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã thu giữ
02 (hai) “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” giả (kèm theo hồ sơ vụ án).
Đây là vật chứng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên lưu vào hồ sơ vụ án.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- - Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ Điều 55 BLHS, buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chấp hành chung hình phạt của 02 tội là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2022.
- Bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 BLHS.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N hoàn trả cho các bị hại số tiền như sau:
- Vợ chồng anh Lê Thanh C, chị Trần Lê Diễm Q số tiền 413.500.000 đồng.
- Anh Nguyễn Thành L số tiền 295.000.000 đồng;
- Vợ chồng anh Huỳnh Ngọc H1, chị Mai Thị Ánh N1 số tiền 250.000.000 đồng;
- Anh Hồ Hữu C1 số tiền 350.000.000 đồng.
- Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lưu vào hồ sơ vụ án: 02 (hai) “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” giả (kèm theo hồ sơ vụ án).
- Về án phí:
- - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng.
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 51.255.000 đồng.
Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS (2015) tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Bình |
Bản án số 99/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về vụ án hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 99/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn N đã thuê người làm giả và sử dụng 02 GCNQSDĐ giả để thế chấp vay tiền rồi chiếm đoạt của vợ chồng anh Lê Thanh C, chị Trần Lê Diễm Q số tiền 413.500.000 đồng và chiếm đoạt của anh Nguyễn Thành L số tiền 295.000.000 đồng. Đồng thời mang GCNQSDĐ đứng tên chị Trần Lê Thị Kim T và giả chữ ký của chị T để thế chấp vay tiền rồi chiếm đoạt của vợ chồng anh Huỳnh Ngọc H1, chị Mai Thị Ánh N1 số tiền 250.000.000 đồng. Bị cáo đưa ra thông tin gian dối về việc làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất để chiếm đoạt của anh Hồ Hữu C1 số tiền 350.000.000 đồng. Tổng cộng, số tiền bị cáo Nguyễn Văn N chiếm đoạt là 1.308.500.000 đồng.
