Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 25/4/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm – Ông Trần Quốc Đấu

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hoài

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo :

- Họ và tên: Nguyễn Thị Hoài T - Sinh năm 1965; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNHTTvà trú tại: Phòng A, chung cư B, số A đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Anh T1 và bà Lê Thị L; A, chị, em: 04 người, bị cáo là con thứ 2; Chồng: Nguyễn Thanh V – Sinh năm: 1961 (Đã ly hôn) ; Con: 02 con (con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1997); Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 26/12/2023. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Thọ C - sinh năm 1977 (vắng mặt)
    Trú tại: khối Bình Yên, phường Hưng Bình, thành phố Vinh, Nghệ An
  2. Anh Hồ Viết H - sinh năm 1983 (vắng mặt)
    Trú tại: khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 12/2018 đến tháng 3/2022, Nguyễn Thị Hoài T đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ, gắn sim số thuê bao “0913055575”, sử dụng tài khoản zalo “Thanh Hoài” đăng ký bởi số điện thoại “0913.055.xxx” để liên lạc với người vay tiền và sử dụng tài khoản số “5100461181” mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Đ (viết tắt là ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị Hoài T để giao dịch chuyển tiền cho nhiều nguời vay tiền lấy lãi suất cao (Tương đương mức lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định) để thu lợi bất chính, cụ thể như sau:

  1. Đối với Phạm Thọ C, sinh năm 1977, trú tại phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An:

    - Ngày 24/12/2018, C gọi điện cho T hỏi vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để kinh doanh. T đồng ý cho vay với lãi suất 3000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (Tương đương mức lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,5 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định), theo đó mỗi tháng C phải trả cho T số tiền lãi 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Sau đó, T đưa tiền mặt cho C 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Từ tháng 12/2018 đến tháng 6/2019, C trả tiền lãi hàng tháng 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) cho T, tổng số tiền lãi C đã trả cho T là 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng).

    Khoản vay này, T đã thu 06 tháng tiền lãi với số tiền lãi là 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền lãi theo quy định T được hưởng là: 20.000.000 đồng x 20% x 6 tháng x 30 ngày / 365 ngày = 1.972.603 đồng (Một triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn sáu trăm linh ba đồng). T hưởng tiền lãi quá quy định và thu lợi bất chính là: 10.800.000 đồng - 1.972.603 đồng = 8.827.397 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).

    - Ngày 27/6/2019, C tiếp tục vay T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) thì T đồng ý và đưa cho C 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền mặt. Sau đó, T gộp khoản vay này với khoản vay 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) ngày 24/12/2018 thành 01 khoản vay 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với lãi suất 3000 đồng/1 triệu/1 ngày (Tương đương với lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần so với lãi suất Bộ luật dân sự quy định), theo đó mỗi tháng C phải trả cho T số tiền lãi là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2021, C trả tiền lãi hàng tháng 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) cho T, tổng số tiền lãi C đã trả cho T là 72.900.000 đồng (Bảy mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng).

    Khoản vay này, T đã thu 27 tháng tiền lãi với số tiền là 72.900.000 đồng (Bảy mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng). Số tiền lãi theo quy định T được hưởng là: 30.000.000 đồng x 20% x 27 tháng x 30 ngày / 365 ngày = 13.315.068 đồng (Mười ba triệu ba trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng). T hưởng tiền lãi quá quy định và thu lợi bất chính là: 72.900.000 đồng - 13.315.068 đồng = 59.584.932 đồng (Năm mươi chín triệu năm trăm tám mươi tư nghìn chín trăm ba mươi hai đồng),

    Đến tháng 10/2021, do ảnh hưởng dịch C1 nên việc kinh doanh của C gặp khó khăn, C xin T chỉ trả tiền gốc thì T đồng ý. Từ tháng 10/2021 đến ngày 30/9/2023, C đã trả hết toàn bộ tiền vay gốc cho T. Như vậy, T đã cho C vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với lãi suất 109,5%/năm, qua đó hưởng tiền lãi quá quy định và thu lợi bất chính số tiền 68.412.329 đồng (Sáu mươi tám triệu bốn trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng).

  2. Đối với Hồ Viết H, sinh năm 1983, trú tại phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

    Ngày 09/02/2021, H gọi điện cho T hỏi vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để kinh doanh, T đồng ý cho vay với lãi suất 3000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (Tương đương mức lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,5 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định), theo đó mỗi tháng H phải trả cho T số tiền lãi 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), H đồng ý. Sau đó, T sử dụng tài khoản ngân hàng số “5100461181” chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) vào tài khoản số “833456788” mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Á (viết tắt ngân hàng A) mang tên Hồ Viết H. Từ tháng 02/2021 đến tháng 3/2022 (Trong vòng 13 tháng), H trả tiền lãi hàng tháng 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) cho T. Đến ngày 16/3/2022, H chuyển khoản trả hết 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền vay gốc cho T. Như vậy tổng số tiền lãi H đã trả cho T là 58.500.000 đồng (Năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).

    Khoản vay này, T đã thu 13 tháng tiền lãi với số tiền lãi là 58.500.000 đồng (Năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi theo quy định T được hưởng là: 50.000.000 đồng x 20% x 13 tháng x 30 ngày / 365 ngày = 10.684.932 đồng (Mười triệu sáu trăm tám mười tư nghìn chín trăm ba mươi hai đồng). T hưởng tiền lãi quá quy định và thu lợi bất chính là: 58.500.000 đồng - 10.684.932 đồng = 47.815.068 đồng (Bốn mươi bảy triệu tám trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng).

Như vậy, T đã cho C và H vay tổng số tiền là 80.000.000 đồng (T2 mươi triệu đồng), thu 142.200.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi, qua đó thu lợi bất chính số tiền 116.227.397 đồng (Một trăm mười sáu triệu hai trăm hai mười bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).

Cáo trạng số 81/VKS - HS ngày 11/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP Vinh truy tố Nguyễn Thị Hoài T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 điều 201 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 2 điều 201, điều 46, điều 47, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điều 65 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106, điều 136 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí xử phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoài T từ 6 tháng tù đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Truy thu sung quỹ Nhà nước tại bị cáo T số tiền gốc cho vay, số tiền lãi suất theo quy định nhà nước. Buộc bị cáo T trả lại số tiền lãi suất quá quy định mà bị cáo đã nhận cho anh Phạm Thọ C.

Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 plus màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Hoài T. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu tài được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo ...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 3 năm 2022, Nguyễn Thị Hoài T đã có hành vi cho Phạm Thọ CHồ Viết H vay tổng số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) với lãi suất 109,5%/năm (cao gấp 5,5 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định) thu số tiền lãi là 142.200.000 đồng, qua đó thu lợi bất chính số tiền 116.227.397 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 201 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế. Bị cáo cho nhiều người vay thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần vì trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục một phần hậu quả cho người liên quan, số tiền cho vay không lớn mà do thời gian kéo dài từ năm 2018 đến năm 2022, bị cáo đầu thú, gia đình có công với cách mạng, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, người liên quan xin giảm nhẹ hình phạt tuổi cũng đã cao nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giáo dục như đề nghị của đại diện VKS là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện nay có hoàn cảnh khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone X màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Hoài T.

Quá trình điều tra xác định bị cáo T cho anh Phạm Thọ C vay số tiền 30.000.000 đồng; anh Hồ Viết H vay số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền này được xác định là phương tiện phạm tội. Anh C, anh H đã trả lại cho bị cáo nên cần truy thu tại để sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền lãi suất mà bị cáo thu theo quy định Nhà nước (20%) được xác định những người liên quan đã trả cho bị cáo cụ thể: anh Phạm T3 13.315.068 đồng (Mười ba triệu ba trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng); anh Hồ Viết H 10.684.932 đồng (Mười triệu sáu trăm tám mười tư nghìn chín trăm ba mươi hai đồng). Số tiền này thu lợi từ tiền mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần truy thu để sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền lãi suất mà bị cáo T4 thu vượt quá mức quy định của Nhà nước trong giao dịch dân sự cụ thể: anh Phạm Thọ C số tiền 68.412.329 đồng (Sáu mươi tám triệu bốn trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng); anh Hồ Viết H số tiền 47.815.068 đồng (Bốn mươi bảy triệu tám trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng) được xác định là tài sản của người liên quan. Quá trình điều tra bị cáo đã thanh toán xong cho Hồ Viết H, anh H không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên miễn xét. Đối với số tiền 68.412.329 đồng của anh Phạm Thọ C, buộc bị cáo trả lại cho anh C.

Đối với chiếc 01 điện thoại Iphone 8 plus màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Hoài T được xác định là phương tiện phạm tội cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.

Đối với chiếc thẻ Ngân hàng mang tên Nguyễn Thị Hoài T là do nhà nước phát hành để sử dụng giao dịch nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Bởi các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52, điều 65, điều 46, điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hoài T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 (mười hai) tháng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn thử thách tính từ ngày xét xử sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Hoài T cho cho UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 plus màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Hoài T hiện có tại Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2024/136 ngày 28/03/2024.

Truy thu tại bị cáo Nguyễn Thị Hoài T số tiền 104.000.000 đồng (một trăm linh bốn triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoài T trả lại cho anh Phạm Thọ C số tiền 68.412.329 đồng.

Trả lại cho bị cáo 01 thẻ ngân hàng B mang tên Nguyễn Thị Hoài T hiện có tại Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2024/136 ngày 28/03/2024.

Về án phí: Căn cứ vào buộc Nguyễn Thị Hoài T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS, CATP, THADS TP. Vinh
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An
  • - Những người tham gia tố tụng
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Thị Hải Yến

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Buộc bị cáo Lê Thị Huyền T5 trả lại cho anh Trần Xuân T6 số tiền 387.161.112 đồng (ba trăm tám mươi bảy triệu một trăm sáu mươi mốt ngàn một trăm mười hai đồng); anh Nguyễn Viết C2 số tiền 32.054.795 đồng (ba mươi hai triệu không trăm năm mươi tư ngàn bảy trăm chín mươi lăm đồng); chị Nguyễn Thị Cúc H1 số tiền 387.329.000 đồng (ba trăm tám mươi bảy triệu ba trăm hai mươi chín ngàn đồng); anh Hồ Văn H2 số tiền 28.569.444 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm sáu mươi chín ngàn bốn trăm bốn mươi bốn đồng); anh Nguyễn Văn T7 số tiền 16.027.398 đồng (mười sáu triệu không trăm hai mươi bảy ngàn ba trăm chín mươi tám đồng).

- Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số 761 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đối với Nguyễn Thị Hoài T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 44 ngày 23 tháng 02 năm 2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Trong thời gian từ tháng 12/2018 đến tháng 3/2022, trên địa bàn thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị Hoài T đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ, gắn sim số thuê bao “0913055575”, sử dụng tài khoản zalo “Thanh Hoài” đăng ký bởi số điện thoại “0913.055.xxx” để liên lạc với người vay tiền và sử dụng tài khoản số “5100461181” mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Đ (viết tắt là ngân hàng B) mang tên Nguyễn Thị Hoài T để giao dịch chuyển tiền cho nhiều nguời vay tiền lấy lãi suất cao (Tương đương mức lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định) để thu lợi bất chính, cụ thể như sau:

  1. Đối với Phạm Thọ C, sinh năm 1977, trú tại phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An:

    - Ngày 24/12/2018, C gọi điện cho T hỏi vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để kinh doanh. T đồng ý cho vay với lãi suất 3000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (Tương đương mức lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,5 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định), theo đó mỗi tháng C phải trả cho T số tiền lãi 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Sau đó, T đưa tiền mặt cho C 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Từ tháng 12/2018 đến tháng 6/2019, C trả tiền lãi hàng tháng 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) cho T, tổng số tiền lãi C đã trả cho T là 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng).

    Khoản vay này, T đã thu 06 tháng tiền lãi với số tiền lãi là 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền lãi theo quy định T được hưởng là: 20.000.000 đồng x 20% x 6 tháng x 30 ngày / 365 ngày = 1.972.603 đồng (Một triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn sáu trăm linh ba đồng). T hưởng tiền lãi quá quy định và thu lợi bất chính là: 10.800.000 đồng - 1.972.603 đồng = 8.827.397 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).

    - Ngày 27/6/2019, C tiếp tục vay T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) thì T đồng ý và đưa cho C 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền mặt. Sau đó, T gộp khoản vay này với khoản vay 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) ngày 24/12/2018 thành 01 khoản vay 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với lãi suất 3000 đồng/1 triệu/1 ngày (Tương đương với lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần so với lãi suất Bộ luật dân sự quy định), theo đó mỗi tháng C phải trả cho T số tiền lãi là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2021, C trả tiền lãi hàng tháng 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) cho T, tổng số tiền lãi C đã trả cho T là 72.900.000 đồng (Bảy mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng).

    Khoản vay này, T đã thu 27 tháng tiền lãi với số tiền lãi là 72.900.000 đồng (Bảy mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng). Số tiền lãi theo quy định T được hưởng là: 30.000.000 đồng x 20% x 27 tháng x 30 ngày / 365 ngày = 13.315.068 đồng (Mười ba triệu ba trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng). T hưởng tiền lãi quá quy định và thu lợi bất chính là: 72.900.000 đồng - 13.315.068 đồng = 59.584.932 đồng (Năm mươi chín triệu năm trăm tám mươi tư nghìn chín trăm ba mươi hai đồng),

    Đến tháng 10/2021, do ảnh hưởng dịch C1 nên việc kinh doanh của C gặp khó khăn, C xin T chỉ trả tiền gốc thì T đồng ý. Từ tháng 10/2021 đến ngày 30/9/2023, C đã trả hết toàn bộ tiền vay gốc cho T. Như vậy, T đã cho C vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với lãi suất 109,5%/năm, qua đó hưởng tiền lãi quá quy định và thu lợi bất chính số tiền 68.412.329 đồng (Sáu mươi tám triệu bốn trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng).

  2. Đối với Hồ Viết H, sinh năm 1983, trú tại phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

    Ngày 09/02/2021, H gọi điện cho T hỏi vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để kinh doanh, T đồng ý cho vay với lãi suất 3000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (Tương đương mức lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,5 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định), theo đó mỗi tháng H phải trả cho T số tiền lãi 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), H đồng ý. Sau đó, T sử dụng tài khoản ngân hàng số “5100461181” chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) vào tài khoản số “833456788” mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Á (viết tắt ngân hàng A) mang tên Hồ Viết H. Từ tháng 02/2021 đến tháng 3/2022 (Trong vòng 13 tháng), H trả tiền lãi hàng tháng 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) cho T. Đến ngày 16/3/2022, H chuyển khoản trả hết 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền vay gốc cho T. Như vậy tổng số tiền lãi H đã trả cho T là 58.500.000 đồng (Năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).

    Khoản vay này, T đã thu 13 tháng tiền lãi với số tiền lãi là 58.500.000 đồng (Năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi theo quy định T được hưởng là: 50.000.000 đồng x 20% x 13 tháng x 30 ngày / 365 ngày = 10.684.932 đồng (Mười triệu sáu trăm tám mười tư nghìn chín trăm ba mươi hai đồng). T hưởng tiền lãi quá quy định và thu lợi bất chính là: 58.500.000 đồng - 10.684.932 đồng = 47.815.068 đồng (Bốn mươi bảy triệu tám trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng).

    Như vậy, T đã cho C và H vay tổng số tiền là 80.000.000 đồng (T2 mươi triệu đồng), thu 142.200.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi, qua đó thu lợi bất chính số tiền 116.227.397 đồng (Một trăm mười sáu triệu hai trăm hai mười bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu

  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đỏ, số Imei: 354838091760830, gắn sim số thuê bao “0913055575”, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) thẻ ngân hàng B số “9704180032403057”, mang tên Nguyễn Thị Hoài T;
  • Các vật chứng trên hiện được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
  • 01 (một) quyển sổ tay bìa màu xanh vàng, trên bìa có chữ “Chinh phục thành công”, bên trong đánh số thứ tự từ 01 đến 04 các trang có nội dung cho vay tiền (kèm theo hồ sơ) (Bút lục 29 – 32);
  • 01 (một) quyển vở “Trường THPT N”, bên trong đánh số thứ tự từ 01 đến 04 các trang có nội dung cho vay tiền (kèm theo hồ sơ) (Bút lục 33 – 36);
  • Trong quá trình điều tra, bị can Nguyễn Thị Hoài T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,

KẾT LUẬN

Trong thời gian từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 3 năm 2022, trên địa bàn thành phố V, Nghệ An, Nguyễn Thị Hoài T đã có hành vi cho Phạm Thọ CHồ Viết H vay tổng số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) với lãi suất 109,5%/năm (Cao gấp 5,5 lần so với mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định) thu số tiền lãi là 142.200.000 đồng (một trăm bốn mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng), qua đó thu lợi bất chính số tiền 116.227.397 đồng (Một trăm mười sáu triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).

Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

Hành vi trên đây của bị can Nguyễn Thị Hoài T là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...".

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị can Nguyễn Thị Hoài T:

  • Bị can bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
  • Bị can được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Vinh để xét xử bị can Nguyễn Thị Hoài T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

2. Kèm theo Cáo trạng có:

  • Hồ sơ vụ án gồm có: .... tập, bằng...... bút lục; đánh số thứ tự từ 01 đến hết.
  • Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Vinh;
  • - Viện KSND tỉnh NA;
  • - Bị can;
  • -.CQ CSĐT;
  • - Lưu: HSVA, HSKS, VP

KT. VIỆN TRƯỞNG

PHÓ VIỆN TRƯỞNG

Đinh Văn Thanh

Từ ngày 18/01/2019 đến ngày 16/12/2020, tại Công ty TNHH D có trụ sở tại số nhà A, đường N thuộc phường C, thành phố V do Lê Thị Huyền T5 làm giám đốc. Lê Thị Huyền T5Phan Văn T8 đã cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao từ 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với 109%/ năm đến 182%/năm để thu lợi bất chính cụ thể:

Hành vi thứ nhất: Ngày 18/01/2019, anh Trần Xuân T6 sinh năm 1977, trú tại khối Y, phường Đ, thành phố V vay của Lê Thị Huyền T5 số tiền 250.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với 22.500.000đồng/1 tháng = 109%/1 năm (cao gấp 5,475 lần lãi suất cao nhất theo quy định BLDS). Khi cho vay Lê Thị Huyền T5Phan Văn T8 là người làm thủ tục, giao tiền và là người trực tiếp thu lãi suất của anh Trần Xuân T6. Tính đến ngày 16/12/2020 anh Trần Xuân T6 phải thanh toán cho Lê Thị Huyền T5 số tiền lãi suất 529.104.167 đồng. Tuy nhiên, anh Trần Xuân T6 mới thanh toán được số tiền lãi suất tính đến ngày 24/10/2020 là 488.500.000 đồng. Hiện anh T6 còn nợ số tiền gốc 250.000.000 đồng. Khoản vay này Lê Thị Huyền T5 được tính lãi suất theo quy định là 250.000.000 đồng x 20%/năm x 646 ngày = 89.722.222 đồng. Lãi suất T5 tính quá quy định để thu lợi bất chính là 398.777.778 đồng.

Hành vi thứ hai: Ngày 08/12/2019, anh Nguyễn Viết C2 sinh năm 1992, trú tại khối M, phường Đ, thành phố V vay của Lê Thị Huyền T5 số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với 3.000.000 đồng/1 tháng = 182,5%/1 năm (cao gấp 9,125 lần lãi suất cao nhất theo quy định BLDS). Khi cho vay Lê Thị Huyền T5Phan Văn T8 là người làm thủ tục, giao tiền và là người trực tiếp thu lãi suất của anh Nguyễn Viết C2. Tính đến ngày 16/12/2020 anh Nguyễn Viết C2 phải thanh toán cho Lê Thị Huyền T5 số tiền lãi suất 38.020.833 đồng. Tuy nhiên, anh Nguyễn Viết C2 mới thanh toán được số tiền lãi suất tính đến tháng 8/12/2020 là 36.000.000 đồng. Hiện anh C2 còn nợ số tiền gốc 20.000.000 đồng. Khoản vay này Lê Thị Huyền T5 được tính lãi suất theo quy định là 20.000.000 đồng x 20%/năm x 360 ngày = 3.945.205 đồng. Lãi suất T5 tính quá quy định để thu lợi bất chính là 32.054.795 đồng.

Hành vi thứ ba: Ngày 11/02/2020, anh Hồ Văn H2 sinh năm 1986, trú tại xã H, thị trấn H, huyện H vay của Lê Thị Huyền T5 số tiền 35.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với 4.200.000đồng/1 tháng = 146,5%/1 năm (cao gấp 7,7 lần lãi suất cao nhất theo quy định BLDS). Khi cho vay Lê Thị Huyền T5Phan Văn T8 là người làm thủ tục, giao tiền, thu lãi suất của anh H2. Tính đến ngày 16/12/2020 anh Hồ Văn H2 phải thanh toán cho Lê Thị Huyền T5 số tiền lãi suất 44.153.472 đồng. Tuy nhiên, anh Hồ Văn H2 mới thanh toán được số tiền lãi suất tính đến ngày 30/10/2020 là 33.100.000 đồng. Hiện anh H2 còn nợ số tiền gốc 35.000.000 đồng. Khoản vay này Lê Thị Huyền T5 được tính lãi suất theo quy định là 35.000.000 đồng x 20%/năm x 233 ngày = 4.530.566 đồng. Lãi suất T5 tính quá quy định để thu lợi bất chính là 28.569.444 đồng.

Hành vi thứ tư: Ngày 20/12/2019, anh Nguyễn Văn T7 sinh năm 1986, trú tại khối D, thị trấn H, huyện H vay của Lê Thị Huyền T5 số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với 3.000.000đồng/1 tháng = 182,5%/1 năm (cao gấp 9,125 lần lãi suất cao nhất theo quy định BLDS). Khi cho vay Lê Thị Huyền T5Phan Văn T8 là người làm thủ tục, giao tiền, thu lãi suất của anh Nguyễn Văn T7. Tính đến ngày 16/12/2020 anh Nguyễn Văn T7 phải thanh toán cho Lê Thị Huyền T5 số tiền lãi suất 20.176.389 đồng. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn T7 mới thanh toán được số tiền lãi suất tính đến ngày 25/11/2020 là 18.000.000 đồng. Hiện anh T7 còn nợ số tiền gốc 20.000.000 đồng. Khoản vay này Lê Thị Huyền T5 được tính lãi suất theo quy định là 20.000.000 đồng x 20%/năm x 178 ngày = 1.977.778 đồng. Lãi suất T5 tính quá quy định để thu lợi bất chính là 16.022.222 đồng.

Hành vi thứ năm: Ngày 13/10/2019, chị Nguyễn Thị Cúc H1 sinh năm 1986, trú tại khối A, thị trấn H, huyện H vay của Lê Thị Huyền T5 số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với 7.500.000đồng/1 tháng = 182,5%/1 năm (cao gấp 9,125 lần lãi suất cao nhất theo quy định BLDS). Khi cho vay Lê Thị Huyền T5 là người làm thủ tục, giao tiền cho chị Nguyễn Thị Cúc H1, đồng thời cùng Phan Văn T8 trực tiếp thu lãi suất của chị H1. Tính đến ngày 16/12/2020 chị Nguyễn Thị Cúc H1 phải thanh toán cho Lê Thị Huyền T5 số tiền lãi suất 109.246.528 đồng. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Cúc H1 mới thanh toán được số tiền lãi suất tính đến ngày 01/10/2020 là 90.000.000 đồng. Hiện chị H1 còn nợ số tiền gốc 50.000.000 đồng. Khoản vay này Lê Thị Huyền T5 được tính lãi suất theo quy định là 50.000.000 đồng x 20%/năm x 354 ngày = 9.833.333 đồng. Lãi suất T5 tính quá quy định để thu lợi bất chính là 80.166.667 đồng.

Hành vi thứ sáu: Ngày 28/11/2019, chị Nguyễn Thị Cúc H1 tiếp tục vay của Lê Thị Huyền T5 số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với 15.000.000đồng/1 tháng = 182,5%/1 năm (cao gấp 9,125 lần lãi suất cao nhất theo quy định BLDS). Khi cho vay Lê Thị Huyền T5 là người làm thủ tục, giao tiền cho chị Nguyễn Thị Cúc H1, đồng thời cùng Phan Văn T8 trực tiếp thu lãi suất của chị H1. Tính đến ngày 16/12/2020 chị Nguyễn Thị Cúc H1 phải thanh toán cho Lê Thị Huyền T5 số tiền lãi suất 195.173.611 đồng. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Cúc H1 mới thanh toán được số tiền lãi suất tính đến ngày 20/10/2020 là 165.000.000 đồng. Hiện chị H1 còn nợ số tiền gốc 100.000.000 đồng. Khoản vay này Lê Thị Huyền T5 được tính lãi suất theo quy định là 100.000.000 đồng x 20%/năm x 328 ngày = 18.222.222 đồng. Lãi suất T5 tính quá quy định để thu lợi bất chính là 146.777.778 đồng.

Hành vi thứ bảy: Ngày 20/12/2019, chị Nguyễn Thị Cúc H1 tiếp tục vay của Lê Thị Huyền T5 số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương với 18.000.000 đồng/1 tháng = 182,5%/1 năm (cao gấp 9,125 lần lãi suất cao nhất theo quy định BLDS). Khi cho vay Lê Thị Huyền T5 là người làm thủ tục, giao tiền cho chị Nguyễn Thị Cúc H1, đồng thời cùng Phan Văn T8 trực tiếp thu lãi suất của chị H1. Tính đến ngày 16/12/2020 chị Nguyễn Thị Cúc H1 phải thanh toán cho Lê Thị Huyền T5 số tiền lãi suất 220.825.000 đồng. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Cúc H1 mới thanh toán được số tiền lãi suất tính đến ngày 10/10/2020 là 180.000.000 đồng. Hiện chị H1 còn nợ số tiền gốc 120.000.000 đồng. Khoản vay này Lê Thị Huyền T5 được tính lãi suất theo quy định là 120.000.000 đồng x 20%/năm x 296 ngày = 19.733.333 đồng. Lãi suất T5 tính quá quy định để thu lợi bất chính là 160.266.667 đồng.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger