Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 99/2025/DS-PT

Ngày 25/02/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán:Ông Chung Văn Kết
Bà Phạm Thị Duyên

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngát - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 730/2024/DS-PT ngày 09/10/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 406/2024/QĐPT, ngày 05 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1966 (chết)

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thành T:

  1. Bà Trương Thị Y, sinh năm 1967 (có mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị Lệ Q, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1989 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của bà Trương Thị Y, anh Nguyễn Minh P: Anh Nguyễn Ngọc H (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trương Thị Y, anh Nguyễn Minh P: luật sư Nguyễn Quang H1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt): Luật sư Trần Văn T1 (vắng mặt), Luật sư Nguyễn Thị H2 (vắng mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Trần Văn N, sinh năm 1952 (xin xét xử vắng mặt)
  2. Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1955 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Mỹ L, Ông Trần Văn N: ông Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1975, địa chỉ: B P, Khóm B, Phường G, Thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trương Thị Y, sinh năm 1967 (có mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị Lệ Q, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1989 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Giồng Lớn, xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh

  1. Anh Trần Thanh H4, sinh năm 1975 (vắng mặt)
  2. Chị Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  3. Anh Trần Trung B, sinh năm 1981 (vắng mặt)
  4. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  5. Anh Trần Hữu T2, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Giồng Lớn, xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh

  1. Chị Trần Thị Thu T3, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Người đại diện hợp pháp của ông Trần Thanh H4, bà Trần Thị Tuyết M, anh Trần Trung B, anh Trần Văn T1, anh Trần Hữu T2, chị Trần Thị Thu T3: Ông Trần Văn N, sinh năm 1952; Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 17/12/2020 và ngày 08/7/2022” (xin xét xử vắng mặt)

  1. Chị Trần Thị Thu T4, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Hẻm C A, đường C, huyện Đ, thành phố C, Đài Loan.

Người đại diện hợp pháp của chị Trần Thị Thu T4: Ông Trần Văn N, sinh năm 1952; Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 08/3/2024” (xin xét xử vằng mặt)

  1. Ủy ban nhân dân huyện C: Do ông Nguyễn Văn N1, Chủ tịch UBND huyện C làm đại diện (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người kháng cáo: Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Trương Thị Y, Nguyễn Minh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 11 năm 2020 và các tài liệu có trong hồ sơ, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thành T (bà Trương Thị Y, chị Nguyễn Thị Lệ Q, anh Nguyễn Minh P) trình bày:

Năm 1994 vợ chồng ông T, bà Y có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Cao Thị B1 Ba toàn bộ thửa đất 1697, diện tích 1.140m² tọa lạc ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đến năm 1996 thì ông Nguyễn Thành T được cấp quyền sử dụng đất thửa số 1697, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.140m². Khi nhận chuyển nhượng đất bà B1 Ba chưa được cấp quyền sử dụng đất, bà Bé B2 cũng không đứng ra chỉ ranh đất đến đâu. Sau khi nhận chuyển nhượng đất giữa ông T và ông N có xác định ranh (là ngay vị trí đang sử dụng hiện nay). Qúa trình sử dụng đất hộ ông Trần Văn N và bà Trần Thị Mỹ L sử dụng đất liền kề thửa số 1712, diện tích 1.190m². Khoảng năm 1997 giữa hai bên ông T và ông N có xác định ranh và xây hàng rào dây chì gai, năm 2006 ông N cất nhà và năm 2019 ông Nghiệp X lại hàng rào như hiện nay. Đến năm 2020 ông N, bà L gặp ông T, bà Y yêu cầu tách thửa sang tên phần đất tranh chấp, lúc này gia đình bà Y mới biết phía gia đình ông N lấn chiếm đất với chiều ngang 07 mét; chiều dài 36 mét, tổng diện tích 252m² (diện tích thực đo 175,4m²) và đã cất nhà cấp 4, xây hàng rào, trồng cây trên thửa 1697.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đồng thừa kế của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông N bà L tháo dỡ, di dời tài sản trên đất tranh chấp mà yêu cầu ông Trần Văn N và bà Trần Thị Mỹ L trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích lấn chiếm là 175,4m² thuộc thửa 1697 cho nguyên đơn.

- Theo đơn yêu cầu phản tố đề ngày 21 tháng 12 năm 2020, bị đơn ông Trần Văn N và bà Trần Thị Mỹ L trình bày:

Năm 1991 ông N có nhận chuyển nhượng diện tích ngang 5,2m; dài 36 mét của ông Nguyễn Văn N2 với giá 04 chỉ vàng 24kara có làm giấy tay, nhưng nay đã thất lạc. Phần đất ông nhận chuyển nhượng giáp ranh với thửa đất của gia đình ông đang sử dụng là thửa số 1712, diện tích 1.190m². Sau khi chuyển nhượng xong thì giữa ông N và ông N2 tiến hành cắm ranh, giao đất cho ông sử dụng ổn định từ năm 1991 cho đến nay, khi nhận chuyển nhượng đất ông không biết ông N2 và bà B1 Ba có quyền sử dụng đất hay chưa, đến khoảng năm 1994 thì bà Bé B2 mới chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành T phần diện tích đất còn lại. Vào năm 1997 giữa ông và ông T có cắm trụ đá để xác định ranh và ông T còn phụ ông làm hàng rào kẽm gai. Năm 2006 ông có chặt cây và tiến hành đổ cát trên phần đất này để xây nhà cấp 4, năm 2019 do hàng rào cũ nên ông có xây dựng lại hàng rào kiên cố như hiện nay. Năm 2020 ông biết phần đất ông nhận chuyển nhượng của ông N2 được cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành T thửa số 1697, nên ông N có đến gặp ông T để nhờ tách thửa cho ông nhưng ông T nói là giấy tờ đất đang thế chấp tại Ngân hàng chưa làm thủ tục tách thửa được. Đến tháng 3/2020 thì ông T yêu cầu gia đình ông trả tiền thì mới chịu tách thửa, ông không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.

Nay các đồng thừa kế của ông Nguyễn Thành T yêu cầu ông trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích 175,4m² nằm trong tổng diện tích chung 1.140m² thuộc thửa 1697 thì ông không đồng ý. Ông N, bà L giữ nguyên yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án xem xét hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T ở thửa 1697, tổng diện tích 1.140m² tọa lạc ấp G, xã V, huyện C, công nhận diện tích 175,4m² cho gia đình ông N.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh H4, bà Trần Thị Tuyết M, anh Trần Trung B, anh Trần Văn T1, anh Trần Hữu T2, chị Trần Thị Thu T3, chị Trần Thị Thu T4 do ông Trần Văn N làm đại diện, thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của ông N.

- Tại Công văn số 2457/UBND-NC, ngày 22/6/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C phúc đáp cho Tòa án như sau: Ngày 15/5/1996 ông Nguyễn Thành T đại diện hộ gia đình xin đăng ký quyền sử dụng đất thửa 1697, diện tích 1.140m², loại đất LNK-T, tọa lạc ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh và được Hội đồng đăng ký ruộng đất xã có ý kiến xét cấp và ghi nguồn gốc đất đai “đất mua”, đồng thời ông Nguyễn Thành T có tên trong sổ địa chính. Ngày 27/02/1996 Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Thành T thửa đất số 1697, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.140m², loại đất cây lâu năm + đất ở, tọa lạc ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh là đúng trình tự thủ tục tại thời điểm cấp giấy.

Tại Bản án dân sự số 31/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34; Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 1 Điều 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 100, 170, 203 Luật đất đai 2013;

Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Trần Văn N, bà Trần Thị Mỹ L và các thành viên trong gia đình gồm: Trần Thanh H4, Trần Thị Tuyết M, Trần Trung B, Trần Văn T1, Trần Thị Thu T4, Trần Hữu T2 giao trả giá trị bằng tiền đối với phần đất có diện tích 175,4m² nằm trong tổng diện tích 1.140m² thuộc thửa 1697, tờ bản đồ số 7 tọa lạc ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh do ông Nguyễn Thành T đứng tên đại diện hộ gia đình.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:

    Công nhận cho ông Trần Văn N và bà Trần Thị Mỹ L được sử dụng phần đất có diện tích 175,4m², tờ bản đồ số 7, loại đất cây lâu năm, thuộc một phần thửa số 1697, đất tọa lạc tại ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh, do hộ ông Nguyễn Thành T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996. Phần đất có tứ cận như sau:

    Hướng Bắc giáp thửa 1697 có cạnh là 35,3m

    Hướng Nam giáp phần B có cạnh là 34,8m

    Hướng Đông giáp đường nhựa có cạnh là 4,4m

    Hướng Tây giáp thửa 1698 có cạnh là 5,6m

    (Có sơ đồ khu đất và công văn số 182/CV-CNHCN ngày 19/5/2021 của chi nhánh V đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh)

    Ông Trần Văn N và bà Trần Thị Mỹ L liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo phần quyết định của Bản án này.

  3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K669646 thửa số 1697, diện tích 1.140m², tờ bản đồ số 7, tọa lạc ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Thành T ngày 27/02/1996.

    Các thừa kế của ông Nguyễn Thành T gồm bà Trương Thị Y, chị Nguyễn Thị Lệ Q, anh Nguyễn Minh P liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần còn lại của thửa 1697 theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí thẩm định giá, về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24 và 25/7/2024 kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn gồm Nguyễn Minh P, Trương Thị Y có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá đầy đủ các chứng cứ có tại hồ sơ, nhận định chưa phù hợp với quy định của pháp luật vì vậy đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại diện tích đất 175,4m2 thuộc một phần thửa 1697, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp G, xã V, huyện C cho nguyên đơn. Tuy nhiên, do bị đơn đã xây dựng trên phần đất này nên yêu cầu bị đơn trả giá trị quyền sử dụng đất theo giá 1.200.000 đồng/m² tổng cộng là 210.480.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nêu trên vì diện tích đất 175,4m² là nguyên đơn đã mua của bà Bé Ba và được cấp giấy chứng nhận đúng quy định pháp luật, yêu cầu bị đơn trả giá trị đất là 210.480.000 đồng

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu:

Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm tố tụng khi không đưa ông N2, bà Bé B2 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Phía bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với giao dịch giữa ông N2 với ông N nhưng cấp sơ thẩm lại chấp nhận là không đúng pháp luật. Việc bà B2 chuyển nhượng nguyên thửa đất cho ông T là đúng pháp luật vì lúc đó bà B2 và ông N2 mâu thuẫn và ông N2 đã giao hết đất cho bà B2 quyết định. Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì ông T đã kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng pháp luật. Ông N mua đất của ông N2 thì ông T không biết và hơn nữa khi ông T mua đất của bà Bé B2 là mua nguyên thửa nên không biết ông N lấn đất. Ông N cho rằng năm 1991 mua đất của ông N2 là do nhu cầu mở rộng thêm đất là không hợp lý vì lúc này ông N có phần đất 1.500m² kế đất ông N2 do đó có căn cứ ông N lấn đất. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm và cho giám định lại chữ ký chữ viết của bà Bé B2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn và bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và giữ nguyên Bản án sơ thẩm (có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về diện tích, nguồn gốc đất tranh chấp:

[1.1] Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh và sơ đồ khu đất (hiện trạng đất tranh chấp) ngày 19/5/2021 của Văn phòng Đ Chi nhánh huyện C thì diện tích đất tranh chấp là 175,4 m² thuộc một phần thửa 1697, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp G, xã V, huyện C, thửa đất đã được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận cho hộ ông Nguyễn Thành T ngày 27/02/1996.

[1.2] Các chứng cứ có tại hồ sơ (lời khai của bà Cao Thị Bé B2, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Thành T, bà Trương Thị Y, ông Trần Văn N... Công văn số 419/CNHCN ngày 12/7/2021 của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện C, sổ mục kê...) thể hiện thửa đất số 1697 nêu trên là của vợ chồng ông Nguyễn Văn N2, bà Cao Thị Bé B2, tại thời điểm này ông N2 và bà B2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2] Về quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

[2.1] Vào khoảng năm 1991 đến năm 1993, ông N2 và bà Bé B2 sống ly thân, Bà B1 Ba cùng các con về sống tại xã M, huyện C, ông N2 ở tại phần đất trên một mình. Năm 1991, ông N2 chuyển nhượng cho ông N một phần đất có chiều ngang khoảng 5m, chiều dài hết đất. Phần đất chuyển nhượng này giáp với thửa đất của ông N đang sử dụng. Lời trình bày của ông N2 phù hợp với lời khai của ông N xác định ông có thửa đất 1712 giáp ranh với thửa 1697 nên ông nhận chuyển nhượng phần đất giáp ranh của ông N2 có diện tích ngang 5,2m, dài 36m với giá 04 chỉ vàng 24k

[2.2] Năm 1993, ông N2 và bà B1 Ba ly hôn, ông N2 giao nhà, đất cho bà B1 Ba quản lý sử dụng nhưng ông N2 không có nói có chuyển nhượng một phần đất cho ông N. Năm 1994, sau khi ly hôn, bà Bé B2 chuyển nhượng thửa đất 1697 cho ông Nguyễn Thành T. Theo lời khai của bà B1 Ba xác định khi bà chuyền nhượng đất cho ông T thì không đo đạc thực tế, không chỉ ranh đất nhưng lúc này đã có hàng tre giáp ranh giữa đất ông N và phần đất bán cho ông T. Sau khi nhận chuyền nhượng đất thì ông Nguyễn Thành T kê khai vào số mục kê và đến năm 1996 và được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/02/1996.

[2.3] Năm 1994, sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất của bà Bé B2 thì giữa ông N và ông T thống nhất ranh đất với nhau (như hiện trạng hiện nay theo sơ đồ của Văn phòng Đ chi nhánh huyện C). Năm 1997, ông T và ông N làm hàng rào bằng dây kẽm gai tại ranh đã xác định từ năm 1994. Đến năm 2006, ông N đốn cây do ông trồng trên đất chuyển nhượng và xây nhà cấp 4. Năm 2019, ông N xây hàng rào bằng bê tông cốt thép, các bên không có tranh chấp.

[3] Như vậy, có căn cứ xác định diện tích đất đang tranh chấp 175.4m² là ông N nhận chuyển nhượng trước từ ông N2 và sử dụng ổn định từ năm 1991, ông T khi còn sống và hiện nay là bà Y (vợ ông T) tại biên bản đối chất ngày 07/3/2024 cũng thống nhất ranh giới giữa phần đất ông N chuyển nhượng của ông N2 và phần đất còn lại thửa 1697 ông T chuyển nhượng của bà Bé B2, khi đó đất chưa có giấy chứng nhận và bà Bé B2 cũng không xác định rõ diện tích nhưng các bên đều biết có giáp ranh đất với hàng tre của ông N, các bên sử dụng ổn định từ năm 1994 cho đến năm 2020 thì mới phát sinh tranh chấp.

Ngoài ra, vào ngày 20/4/2020 ông N có làm tờ “đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai” gửi UBND xã G đề nghị giải quyết tranh chấp giữa ông và ông T. Tờ đơn này có xác nhận của ông N2 là bên bán đất, người làm chứng là ông Nguyễn Văn Q1, ông Lê Văn L1 và xác nhận của bà Cao Thị B1 Ba xác định ông Trần Văn N nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn N2 là đúng sự thật. Căn cứ kết luận giám định số 281/KL-KTHS ngày 19/6/2024 Phòng K, Công an tỉnh T kết luận: Chữ ký của bà Cao Thị B1 Ba tại tờ: Đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai ngày 20/4/2020 và các chữ ký tại giấy xác nhận (M1, bút lục 281) và biên bản xác minh (M4) là do một người ký ra.

[4] Đánh giá tổng hợp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ nêu trên thì không có cơ sở kết luận ông N lấn chiếm phần đất có diện tích 175.4m² của ông T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông T và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông N là đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Y, ông P, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về ý kiến của luật sư đề nghị hủy Bản án sơ thẩm do không đưa bà B1 Ba và ông N2 tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết vì các đương sự không tranh chấp về các giao dịch của các đương sự này.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

[6] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Y, ông P phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bà Trương Thị Y, ông Nguyễn Minh P.

Giữ nguyên Bản án dân sự số 31/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Căn cứ Điều 100, 170, 203 Luật đất đai 2013;

Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Trần Văn N, bà Trần Thị Mỹ L và các thành viên trong gia đình gồm: Trần Thanh H4, Trần Thị Tuyết M, Trần Trung B, Trần Văn T1, Trần Thị Thu T4, Trần Hữu T2 giao trả giá trị bằng tiền đối với phần đất có diện tích 175,4m² nằm trong tổng diện tích 1.140m² thuộc thửa 1697, tờ bản đồ số 7 tọa lạc ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh do ông Nguyễn Thành T đứng tên đại diện hộ gia đình.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:

    Công nhận cho ông Trần Văn N và bà Trần Thị Mỹ L được sử dụng phần đất có diện tích 175,4m², tờ bản đồ số 7, loại đất cây lâu năm, thuộc một phần thửa số 1697, đất tọa lạc tại ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh, do hộ ông Nguyễn Thành T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996. Phần đất có tứ cận như sau:

    Hướng Bắc giáp thửa 1697 có cạnh là 35,3m

    Hướng Nam giáp phần B có cạnh là 34,8m

    Hướng Đông giáp đường nhựa có cạnh là 4,4m

    Hướng Tây giáp thửa 1698 có cạnh là 5,6m

    (Có sơ đồ khu đất và công văn số 182/CV-CNHCN ngày 19/5/2021 của chi nhánh V1 đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh)

    Ông Trần Văn N và bà Trần Thị Mỹ L liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo phần quyết định của Bản án này.

  3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K669646 thửa số 1697, diện tích 1.140m², tờ bản đồ số 7, tọa lạc ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Thành T ngày 27/02/1996.

    Các thừa kế của ông Nguyễn Thành T gồm bà Trương Thị Y, chị Nguyễn Thị Lệ Q, anh Nguyễn Minh P liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần còn lại của thửa 1697 theo quy định của pháp luật.

  4. Về chi phí thẩm định, định giá: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trương Thị Y, chị Nguyễn Thị Lệ Q, anh Nguyễn Minh P phải chịu bằng 5.560.000 đồng, bà Y đã nộp tạm ứng xong, nên không phải nộp tiếp.
  5. Về chi phí giám định: Buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: bà Trương Thị Y, chị Nguyễn Thị Lệ Q, anh Nguyễn Minh P phải chịu 4.500.000 đồng (bà Y đã nộp tạm ứng 3.000.000 đồng, nên bà Y, chị Q, anh P phải nộp tiếp 1.500.000 đồng), ông Nguyễn Thành T không phải chịu tiền chi phí giám định, cơ quan Thi hành án dân sự thu từ bà Y, chị Q, anh P bằng 1.500.000 đồng hoàn trả cho ông Trần Văn N.
  6. Về án phí sơ thẩm: Buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: bà Trương Thị Y, chị Nguyễn Thị Lệ Q, anh Nguyễn Minh P phải chịu bằng 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí bằng 630.000 đồng, theo biên lai số 0002725 ngày 30/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang, nên được hoàn lại số tiền 330.000 đồng.
  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trương Thị Y và ông Nguyễn Minh P phải chịu mỗi người 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà Y, ông P đã nộp tại các biên lai thu tiền số 004486 ngày 29 tháng 07 năm 2024 và Biên lai số 004487 ngày 31 tháng 07 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh vào phần án phí phải chịu (Đã nộp xong)
  8. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP(3), HS 25b (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 99/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger