|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 24-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Thư
Ông Phạm Văn Dung
ảng Phong - Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Trịnh Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn H, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1986 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Q (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/02/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hưng Yên khởi tố, tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị Công an huyện T, tỉnh Hưng Yên bắt ngày 24/02/2024, tạm giam ngày 27/02/2024 tại Trại Tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
Bị hại: Ông Trần Văn L, sinh năm 1950; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 04/11/2023, Trần Văn H đi làm về thấy ông Trần Văn L là bố đẻ của H đang nằm ngủ ở phòng khách. Do nghiện ma túy nên H nảy sinh ý định lấy xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 15C1-402.26 đang để ở phòng khách (xe của anh trai H là Trần Văn C cho ông L sử dụng) đi cầm cố lấy tiền tiêu. H lấy chìa khóa xe mô tô ông L để dưới chiếu, mở khóa điện điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15C1-402.26 đi ra đường. Nghe tiếng xe máy, ông L tỉnh dậy nhìn thấy H đã ra khỏi nhà. H điều khiển xe đến gặp Bùi Duy B, sinh năm 1987, trú tại phường Đ, huyện D, thành phố Hải Phòng (bạn H) nhờ B dẫn đi cầm xe hộ. B hỏi xe của ai thì H nói là xe của nhà, H vẫn thường sử dụng. B dẫn H đi đến địa bàn quận K, sau đó B trực tiếp đem chiếc xe trên đi cầm cho một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở địa bàn phường P, quận K được 6.000.000 đồng. B đưa lại cho H số tiền trên, H đưa 1.000.000 đồng nhờ B mua cho một chiếc điện thoại. Sau đó H bỏ đi Hưng Yên mà không báo cho gia đình biết.
Khoảng một tuần sau, người đàn ông cầm xe yêu cầu B chuộc xe, do không liên lạc được với H nên B gọi điện báo cho ông L biết. Ngày 11/11/2023, ông L đã chuộc lại chiếc xe trên và đến Công an xã H trình báo.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 06/KL-HĐĐG ngày 17/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện A xác định: Giá trị của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 15C1-402.26 là 14.800.000 đồng.
Ngày 24/02/2024, Trần Văn H bị Công an huyện T, Hưng Yên bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra, Trần Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Cáo trạng số 116/CT-VKSAD ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật, rất ăn năn hối hận nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 06/KL-HĐĐG ngày 17/02/2024 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 04/11/2023, tại thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, Trần Văn H đã lợi dụng sở hở của bị hại trong việc trông coi tài sản và có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 15C1-402.26 trị giá 14.800.000 đồng của ông Trần Văn L. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 14.800.000 đồng xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây nguy hiểm cho xã hội nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần xét xử nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố bị cáo là thương binh nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo trốn khỏi địa phương và thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại huyện T, tỉnh Hưng Yên đã bị Công an huyện T khởi tố và bắt tạm giam cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét tính chất hành vi phạm tội, hoàn cảnh của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sụng là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn H.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Hưng
