Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 22-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị A
  2. Ông Lâm Văn Quốc Trọng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/HSST-QĐ ngày 18/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/HSST-QĐ ngày 02/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Minh Q, sinh ngày 14/9/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: B007 căn hộ thương mại cao ốc A, phường A, quận B, Tp .; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh H (sinh năm 1958) và bà: Nguyễn Thanh T (sinh năm 1960); tiền án; tiền sự: Không;
  2. Nhân thân: Ngày 27/9/2019 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Tp. áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng theo Quyết định số 281/2019/QĐ-TA. Ngày 06/6/2020 chấp hành xong;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh ngày 26/4/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 59/6/6 đường số H, Phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hùng C (sinh năm 1964) và bà: Phạm Thị T2 (sinh năm 1969); tiền án, tiền sự: Không;
  4. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2021 đến ngày 11/8/2022 có giấy xác nhận chấp hành án xong. Từ ngày 27/3/2023 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

  5. Nguyễn Trí Duy Q1, sinh ngày 23/12/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A12/21A7, tổ G, ấp B xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 78 đường số B, khu dân cư B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trí D (sinh năm 1966) và bà: Trương Thị Trúc L (sinh năm 1970); tiền án, tiền sự: Không;
  6. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2021 đến ngày 17/3/2021. Từ ngày 19/3/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

  7. Nguyễn Gia H1, sinh ngày 14/8/1999 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 5 ấp B xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ 5 ấp B xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu N (sinh năm 1970) và bà: Mai Thị H2 (sinh năm 1970); tiền án, tiền sự: Không;
  8. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2021 đến ngày 07/7/2021, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

  9. Hoàng Trường M, sinh ngày 22/12/1996 tại thành phố Hà Nội. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, thị trấn T, huyện G, Thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn T, huyện G, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nhân viên ngân hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn V (sinh năm 1949) và bà: Đặng Thị N1 (sinh năm 1961); tiền án, tiền sự: Không;
  10. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2021 đến ngày 17/3/2021. Từ ngày 19/3/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

  11. Trần Lam S, sinh ngày 10/12/1996 tại thành phố Hà Nội. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Căn hộ A chung cư C, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Căn hộ 1901B chung cư C, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: nhân viên ngân hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Xuân T3 (sinh năm 1973) và bà: Phạm Thị Â (sinh năm 1976); tiền án, tiền sự: Không;
  12. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2021 đến ngày 17/3/2021. Từ ngày 19/3/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

  13. Nguyễn Quang L1, sinh ngày 28/01/1987 tại Thành phố Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3 Đà Nẵng, Phường L, Quận N, Thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: A đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quang H3 (chết) và bà: Phạm Thị T4 (sinh năm 1948); tiền án, tiền sự: Không;
  14. Nhân thân:

    • Ngày 08/12/2015, bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
    • Năm 2017, bị Công an quận N, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2021 đến ngày 17/3/2021. Từ ngày 19/3/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

  15. Lâm Quách Trung T5, sinh ngày 10/6/1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 54 đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: 54 đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên công ty; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Kiên T6 (sinh năm 1968)và bà: Quách Nguyễn Yến C1 (sinh năm 1972); tiền án, tiền sự: Không;
  16. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2021 đến ngày 17/3/2021. Từ ngày 19/3/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Các bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Công ty trách nhiệm hữu hạn P3.
  2. Địa chỉ trụ sở chính: 754-756 đường S, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật:

    Bà Phạm Nguyễn Hồng A, sinh năm 1991 (vắng mặt)

  3. Nguyễn Hoài T7, sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Địa chỉ: B đường H, Phường A, Quận A, Tp ..

  5. Công ty TNHH X1
  6. Địa chỉ: B Đường S, khu đô thị A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Phúc T8, sinh năm 1972 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 11/3/2021, Đ Công an Q2 kết hợp với Công an P4, Quận A kiểm tra phát hiện và bắt quả tang tại lầu 1 quán C2 số 7 S, Phường A, Quận A có 03 sòng bạc.

- Sòng 1 đánh bạc dưới hình thức đánh bài Poker: gồm Nguyễn Thị Cẩm T1 đang chia bài cho các con bạc bao gồm Nguyễn Gia H1, Nguyễn Quang L1, Trần Lam S, Lâm Quách Trung T5, Hoàng Trường M và Nguyễn Trí Duy Q1. Vật chứng thu giữ: số phỉnh là 19.015 điểm (17.200 điểm là tiền của các con bạc, 500 điểm là tiền hoa hồng con bạc cho T1, 875 điểm là tiền xâu và 440 điểm tiền người thắng góp); thu giữ của T1 số tiền 350.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone; thu giữ của Q1 số tiền 1.900.000 đồng, số phỉnh 1.010 điểm, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, 01 xe môtô biển số 59F1-230.53; thu giữ của H1 số tiền 15.700.000 đồng, số phỉnh 1.900 điểm, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 01 xe môtô biển số 60C1-965.20; thu giữ của Hoàng Trường M số tiền 5.600.000 đồng, số phỉnh 2.155 điểm, 02 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus và N2, 01 xe môtô biển số 29F2-140.75; thu giữ của L1 số tiền 500.000 đồng, số phỉnh 1.850 điểm, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11; thu giữ của S số tiền 600.000 đồng, số phỉnh 2.295, 02 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus và N5, 01 xe máy biển số 34M4-3210; thu giữ của T5 số phỉnh 2.465 điểm, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, 01 xe môtô biển số 54U3-2066.

- Sòng 2 đánh bạc dưới hình thức đánh bài xì dách gồm: Lâm T, Huỳnh Công T9, Trần Thị Kim T10, Nguyễn Thị Diễm L2, Võ Nguyễn Thảo T11 (các đối tượng làm cái xoay vòng), thu giữ tổng số tiền 1.380.000 đồng, một số xe môtô và điện thoại di động.

- Sòng 3 đánh bạc dưới hình thức đánh bài xì dách gồm: Trần Văn H4 (làm cái), Trừ Văn L3, Thiên Duy T12, Huỳnh Tấn P, Lê D1, Nguyễn Thành H5, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Tấn V1, Đỗ Thế N3, thu giữ tổng số tiền là 3.110.000 đồng, một số xe môtô và điện thoại di động.

Tất cả được đưa về Công an P4, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, Nguyễn Thị Cẩm T1, Nguyễn Trí Duy Q1, Nguyễn Gia H1, Nguyễn Quang L1, Trần Lam S, Lâm Quách Trung T5 và Hoàng Trường M khai như sau:

Nguyễn Thị Cẩm T1 khai, Nguyễn Minh Q là người đứng ra tổ chức cho các con bạc đánh bài Poker ăn tiền tại quán C2. Q giao nhiệm vụ cho Q1 đổi phỉnh cho các con bạc, sau đó ghi chú vào điện thoại của Q1, mỗi 01 điểm ghi trên phỉnh tương đương với 1.000 đồng và ngoài ra Q1 còn có nhiệm vụ vào tham gia đánh bạc cho đủ tụ khi thiếu người chơi nhưng không với mục đích thắng thua. Các con bạc không cần bỏ tiền ra mà lấy phỉnh chơi trước, sau khi kết thúc việc đánh bạc sẽ đổi điểm tính tiền với Q. T1 được Q giao nhiệm vụ chia bài và nhận tiền xâu từ các con bạc. Khi đánh bài P1, người thắng sẽ trích 05% trên số tiền thắng để xâu cho chủ sòng bạc là Nguyễn Minh Q và bỏ ra 05 điểm (khi thắng 500 điểm trở lên) để khi có người có bài thùng phá sảnh hoặc tứ quí sẽ lấy tiền này. T1 được Q trả công bằng cách dùng tài khoản số 1016406070 chuyển khoản tiền hoa hồng con bạc thắng được cho T1, cụ thể vào các ngày 26/02/2021, 01, 02, 03, 07, 09, 11/3/2021 chuyển khoản số tiền lần lượt là 1.000.000 đồng, 2.700.000 đồng, 1.700.000 đồng, 2.000.000 đồng, 2.500.000 đồng, 7.000.000 đồng, 1.800.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 18.700.000 đồng. Riêng ngày 11/3/2021, T1 được những con bạc thắng cho hoa hồng 500 điểm phỉnh và T1 giữ 440 điểm phỉnh của người thắng bỏ ra, để khi người có bài thùng phá sảnh, tứ quí lấy. Ngày 11/3/2021, trước khi bị bắt quả tang sòng bài gồm có các con bạc: H1, L1, S, T5, M, Q1, Q và đối tượng tên V1 (không rõ lai lịch). Tại thời điểm bắt quả tang, V1, Q vừa đi ra ngoài. Q, V1 đã để 5.525 điểm phỉnh, tương đương 5.525.000 đồng và 875 điểm phỉnh, tương đương 875.000 đồng là tiền xâu Q nhờ T1 giữ giùm, khi bắt quả tang Cơ quan công an đã thu giữ toàn bộ số phỉnh này.

Nguyễn Trí Duy Q1 khai ban đầu Q1 là người chơi, nhưng 10 ngày trước khi bị bắt Q1 phụ Q thu đổi phỉnh cho các con bạc. Khi sòng bạc vắng thì Q1 ngồi chơi cùng các con bạc nhưng không ăn thua (làm nhiệm vụ chim mồi). Mỗi ngày Q trả cho Q1 200.000 đồng/ngày (làm được 07 ngày, thu lợi 1.400.000 đồng), 03 ngày trước khi bị bắt Q1 được trả 500.000 đồng/ngày (thu lợi 1.500.000 đồng), tổng số tiền thu lợi bất chính của Q1 là 2.900.000 đồng. Ngày 11/3/2021, Q1 cũng ngồi chơi cho đủ tụ, không tham gia sát phạt. Khi bị bắt giữ, thu giữ của Q1 số phỉnh 1.010 điểm, tương đương số tiền đánh bạc là 1.010.000 đồng, là do Q đưa cho Q1 để tham gia đánh bạc cho đủ tụ. Các ngày 02, 09, 10/3/2021, Q dùng số tài khoản 1016406070 chuyển khoản cho Q1 tổng số tiền là 3.000.000 đồng, đây là tiền trước đó Q mượn và chuyển trả cho Q1, không liên quan đến việc đánh bạc. Ngày 11/3/2021, Q1 chuyển khoản cho Quân số tiền 1.300.000 đồng, đây cũng là tiền Quân mượn của Q1.

Nguyễn Gia H1 khai trước đó khoảng 02 tuần có quen biết Nguyễn Minh Q và biết Q có tổ chức đánh bạc tại quán C2. Khoảng 21 giờ ngày 11/3/2021, H1 mang theo số tiền 15.700.000 đồng đến quán cà phê S1, nhưng chỉ sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. H1 gặp Q mua 500 điểm, quá trình chơi thua hết nên mua thêm 500 điểm nữa và thắng được 1.400 điểm. Khi bắt quả tang đã thu giữ của H1 1.900 điểm phỉnh, tương đương số tiền đánh bạc là 1.900.000 đồng. Đây là lần đầu tiên H1 tham gia đánh bạc và bị bắt. Vào các ngày 26/02/2021, 03/3/2021, Q dùng số tài khoản 1016406070 chuyển khoản cho H1 tổng số tiền là 6.500.000 đồng, đây là tiền Quân mượn của H1 trước đó, không liên quan đến việc đánh bạc.

Nguyễn Quang L1 khai thông qua mạng xã hội thì biết tại quán C2 có tổ chức đánh bạc và có để lại số điện thoại 0909.425.xxx tên Q. Đến khoảng 20 giờ ngày 11/3/2021, L1 đến quán cà phê S1 và mang theo 500.000 đồng để đánh bạc, L1 mua 400 điểm. Lợi thắng được 1.450.000 đồng. Khi bắt quả tang đã thu giữ của L1 1.850 điểm phỉnh, tương đương số tiền 1.850.000 đồng. Tổng số tiền và phỉnh dùng để đánh bạc của Nguyễn Quang L1 là 1.950.000 đồng. Trước đó, ngày 10/3/2021 L1 đã đến quán C2 đánh bạc, L1 không nhớ là chơi với ai và thắng 4.000.000 đồng, số tiền này Q đã chuyển khoản cho L1.

Trần Lam S khai thông qua mạng xã hội và quen biết với Nguyễn Minh Q. Ngày 11/3/2021, Q nhắn tin rủ S đến quán C2 đánh bạc. Đến 18 giờ cùng ngày, S mang theo 600.000 đồng và dùng mua được 600 điểm, S thắng được 1.695 điểm phỉnh. Khi bắt quả tang đã thu giữ của S 2.295 điểm phỉnh, tương đương số tiền đánh bạc là 2.295.000 đồng. Trước đó, khoảng đầu tháng 3/2021 S đã đến quán C2 đánh bạc và thua 200.000 đồng.

Lâm Quách Trung T5 khai khi lên mạng xã hội thì thấy có tổ chức chơi Poker tại quán cà phê S1 nên T5 đã đến chơi được hai lần vào các ngày 09, 10/3/2021, T5 không nhớ chơi với ai và thắng 750.000 đồng. Q đã chuyển tiền vào tài khoản số 0027041023445 của T5 để trả tiền thua bạc. Ngày 11/3/2021 qua mạng xã hội zalo, Q nhắn tin rủ T5 đến đánh bạc. Khoảng 20 giờ ngày 11/3/2021 T5 đi cùng Lê Ngọc Nguyễn T13 và Huỳnh Ngọc Đan T14 đến quán cà phê nhưng chỉ có T5 tham gia chơi đánh bạc, còn T13 và T14 ngồi xem. Khi đi đánh bạc T5 không mang theo tiền, T5 đã mua của Q 1.000 điểm phỉnh, tương đương số tiền 1.000.000 đồng, T5 đã thắng được 1.465 điểm. Khi bắt quả tang đã thu giữ của T5 2.465 điểm phỉnh, tương đương số tiền 2.465.000 đồng.

Hoàng Trường M khai thông qua mạng xã hội có quen biết Q và biết Q tổ chức đánh bạc tại quán C2. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/3/2021, M mang theo số tiền 5.600.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 1.100.000 đồng để đánh bạc. M gặp Q mua 500 điểm để chơi đánh bạc, thắng được 1.655 điểm. Khi bắt quả tang đã thu giữ của M 2.155 điểm phỉnh, tương đương số tiền 2.155.000 đồng. Số tiền M dùng vào việc đánh bạc là 2.755.000 đồng, gồm tiền bằng phỉnh là 2.155.000 đồng và 600.000 đồng. Trước đó, M đã 03 lần đến đánh bạc tại quán C2, M không nhớ là chơi cụ thể với ai, M thua tổng cộng 1.500.000 đồng. Vào các ngày 21/02/2021, 09 và 10/3/2021, M đã chuyển khoản cho Q tổng số tiền là 7.450.000 đồng, trong đó có tiền thua bạc và tiền Quân mượn của M.

Ngày 08/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q2 bắt được Nguyễn Minh Q theo quyết định truy nã số 02/QĐ-TTXH ngày 04/6/2021. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q2, Nguyễn Minh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình về việc tổ chức cho các con bạc đánh bạc tại quán C2 địa chỉ: số G S, Phường A, Quận A. Lời khai nhận của Q phù hợp với lời khai của các bị can T1, Q1, H1, L1, M, T5, S. Q khai khoảng đầu tháng 02/2021, thông qua mạng xã hội, Q rủ nhóm bạn đánh bạc bằng hình thức chơi Porker, Q chọn địa điểm là Quán cà phê S1 và chuẩn bị một thảm simili màu xanh – đen dùng để chơi P2. Tham gia đánh bạc còn có Dương Văn V2, trước đó, Q đã chuyển khoản trả tiền thắng bạc cho V2 vào tài khoản số 1090001482061 mở tại N hành V4 vào ngày 02/3/2021 là 4.007.700 đồng; ngày 05/3/2021 là 7.007.7000 đồng; ngày 07/3/2021 là 1.005.500 đồng; ngày 08/3/2024 là 605.500 đồng; ngày 09/3/2024 là 3.507.700 đồng; ngày 10/3/2021 là 2.607.700 đồng; ngày 11/3/2021 là 655.500 đồng. Từ khi tổ chức đánh bạc, Q thu lợi bất chính được khoảng 16.000.000 đồng.

Xác minh chủ tài khoản 1090001482061 mở tại ngân hàng V4 do Dương Văn V2, sinh ngày 25/12/1982, đăng ký thường trú: Tổ C, Cụm E, phường Đ, quận N, TP . Hải Phòng, là chủ tài khoản. Kết quả xác minh hiện Dương Văn V2 không có mặt tại địa phương. Cơ quan cảnh sát điều tra Quận A đã ra quyết định truy tìm người đối với Dương Văn V2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm rõ, sẽ xử lý sau.

Tổng số tiền các bị can đã sử dụng vào việc đánh bạc là: 19.715.000 đồng, gồm: số tiền trên sòng bạc là 17.200.000 đồng; số tiền sẽ dùng vào việc đánh bạc để trong người của bị can Hoàng Trường M và Nguyễn Quang L1 là: 700.000 đồng; số tiền của người thắng bạc trích ra và cho T1 là: 500.000 đồng; tiền người thắng góp: 440.000 đồng; tiền xâu là 875.000 đồng.

Đối với sòng bài xì dách 1, Lâm Thanh T15, Huỳnh Công T9, Trần Thị Kim T10, Nguyễn Thị Diễm L2, Võ Nguyễn Thảo T11 khai nhận như sau: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/3/2021, cả nhóm đến quán cà phê uống nước. Sau đó, rủ nhau cùng đánh bài xì dách ăn thua bằng tiền và thay phiên nhau làm cái mỗi người 03 ván. Số tiền mang theo đánh bạc như sau: T15 180.000 đồng; T9 300.000 đồng; T10 400.000 đồng; L2 200.000 đồng; Trinh 300.000 đồng. Cả nhóm đều khai chủ quán cà phê không thu tiền xâu, bài do T15 mua mang đến và chơi. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc là 1.380.000 đồng. Qua xác minh được biết Lâm Thanh T15, Huỳnh Công T9, Trần Thị Kim T10, Nguyễn Thị Diễm L2, Võ Nguyễn Thảo T11 chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến các hành vi quy định tại Điều 321, 322 Bộ luật hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã trả tự do và chuyển xử lý hành chính về hành vi đánh bạc.

Đối với sòng bài xì dách 2: Trần Văn H4, Trừ Văn L3, Thiên Duy T12, Huỳnh Tấn P, Lê D1, Nguyễn Thành H5, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Tấn V1, Đỗ Thế N3 khai nhận như sau: khoảng 20 giờ ngày 11/3/2021, H4 đến quán C2 thì gặp P, L3, Ngọc Al nên cả nhóm cùng chơi bài tiến lên. Đến 21 giờ cùng ngày, có thêm T12, D1, V1, N3, H5 đến nên cả nhóm chuyển qua chơi bài xì dách ăn thua bằng tiền do H4 làm cái. Số tiền mang theo đánh bạc như sau: H4 1.200.000 đồng (mang theo 500.000 đồng, thắng 700.000 đồng), L3 600.000 đồng, T12 150.000 đồng, P 250.000 đồng (mang theo 140.000 đồng, thắng 110.000 đồng), D1 450.000 đồng (mang theo 360.000 đồng, thắng 90.000 đồng), H5 10.000 đồng, Ngọc A1 65.000 đồng (đã thua hết), V1 450.000 đồng (mang theo 440.000 đồng, thắng 10.000 đồng), N3 50.000 đồng (đã thua hết). Cả nhóm đều khai chủ quán cà phê không thu tiền xâu, bài do H4 và D1 mua mang đến và chơi. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc là 3.110.000 đồng. Qua xác minh được biết Trần Văn H4, Trừ Văn L3, Thiên Duy T12, Huỳnh Tấn P, Lê D1, Nguyễn Thành H5, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Tấn V1, Đỗ Thế N3 chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến các hành vi quy định tại Điều 321, 322 Bộ luật hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã trả tự do và chuyển xử lý hành chính về hành vi đánh bạc.

Qua xác minh được biết nhà số G S, Phường A, Quận A do ông Nguyễn Đỗ Quang T16 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 01/4/2019, ông T16 cho Công ty trách nhiệm hữu hạn P3 thuê lại với giá 40.000.000 đồng/ tháng (có làm hợp đồng). Ông Nguyễn Anh V3 (là người đại diện theo ủy quyền của Công ty P3) cho biết Công ty thuê lại mặt bằng để mở quán cà phê S1, tầng 1 của quán cà phê chia làm 20 phòng, một phòng cho sinh viên học bài và 01 phòng cho những người chơi game. Quán không chủ trương cho khách đến uống nước đánh bạc. Tại thời điểm bắt quả tang có mặt quản lý là Nguyễn Hoài T7. T7 khai làm quản lý từ ngày 17/02/2021, thời gian làm việc từ 12 giờ đến 23 giờ mỗi ngày. T7 đã nhiều lần nhắc nhở khách uống nước không được chơi đánh bài, tại quán chỉ bán nước và không hưởng lợi từ việc đánh bạc của khách. T7 có thấy một số người dùng tấm simili để chơi bài Poker nên có hỏi và được nói là chơi game không thắng thua bằng tiền.

Vật chứng vụ án:

  • 01 bộ bài tây 52 lá, 01 thảm simili màu xanh đen, số phỉnh có tổng điểm là 19.015 và 01 hộp nhôm bên trong có 293 phỉnh nhựa các loại.
  • Thu giữ của Nguyễn Thị Cẩm T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 và số tiền 350.000 đồng.
  • Thu giữ của Nguyễn Trí Duy Q1: 01 điện thoại di động hiệu S3 S10 và số tiền 1.900.000 đồng.
  • Thu giữ của Nguyễn Gia H1: 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 12 Pro Max và số tiền 15.700.000 đồng.
  • Thu giữ của Trần Lam S: 01 xe môtô biển số 34M4-3210, 02 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, N5 và số tiền 600.000 đồng. Qua xác minh được biết người đứng tên chủ sở hữu là ông Đặng Hữu D2. Ngày 18/7/2020, ông D2 bán xe cho S với giá 3.000.000 đồng. Ngày 11/3/2021, S điều khiển xe đến quán cà phê S1 đánh bạc và sau đó bị bắt.
  • Thu giữ của Hoàng Trường M: 02 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus và N5, số tiền 5.600.000 đồng.
  • Thu giữ của Lâm Quách Trung T5: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max.
  • Thu giữ của Nguyễn Quang L1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 và số tiền 500.000 đồng.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

  • 01 xe môtô biển số 59F1-230.53 (thu giữ của Nguyễn Trí Duy Q1), qua xác minh do bà Trương Thị Trúc L (là mẹ của Q1) đứng tên đăng ký sở hữu. Bà L khai đưa xe cho Q1 sử dụng từ tháng 01/2021, việc Q1 dùng xe làm phương tiện đi đánh bạc và sau đó bị bắt bà L không biết nên Cơ quan điều tra trả xe cho bà là có cơ sở.
  • 01 xe môtô biển số 60C1-965.20, thu giữ của Nguyễn Gia H1. Qua xác minh do ông Huỳnh Văn T17 đứng tên đăng ký sở hữu. Ngày 14/8/2019, ông T17 bán xe cho bà Nguyễn Thị Tố N4, là chị ruột của bị can H1. Ngày 11/3/2021, H1 mượn xe của bà N4 đi công việc và sau đó bị bắt. Cơ quan điều tra trả lại xe cho bà N4 là có cơ sở.
  • 01 xe môtô biển số 29E2-140.75, thu giữ của Hoàng Trường M. Qua xác minh do bà Nguyễn Thị Thanh T18 đứng tên đăng ký sở hữu. Bà T18 đưa xe cho con trai là T19 Nguyễn Duy H6 sử dụng. Ngày 11/3/2021, ông H6 cho M mượn xe và sau đó M bị bắt. Do đó, Cơ quan điều tra trả lại xe cho ông H6 là có cơ sở.
  • 01 xe môtô biển số 54U3-2066, thu giữ của Lâm Quách Trung T5. Qua xác minh xe do ông Lâm Kiên T6, cha ruột của bị can T5, là chủ sở hữu. Ngày 11/3/2021, Lâm Quách Trung T5 mượn xe của ông T6 đi công việc và sau đó bị bắt. Cơ quan điều tra trả lại xe cho ông T6 là có cơ sở.

Tại Bản Cáo trạng số 36/CT-VKSQ10 ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Nguyễn Minh Q, Nguyễn Thị Cẩm T1, Nguyễn Trí Duy Q1, Nguyễn Gia H1, Hoàng Trương M1, Trần Lâm S2, Lâm Quách Trung T5, Nguyễn Quang L1 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) và nhân thân của từng bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tương ứng xử phạt bị cáo:

Nguyễn Minh Q: từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù

Nguyễn Thị Cẩm T1: từ 01 năm 05 tháng đến 1 năm 8 tháng tù.

Nguyễn Trí Duy Q1: từ 01 năm 06 tháng đến 1 năm 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.

Giao bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Nguyễn Gia H1, Hoàng Trường M, Trần Lam S, Lâm Quách Trung T5 phạt tiền từ 30.000.000 đến 40.000.000 đồng.

Nguyễn Quang L1 phạt tiền từ 40.000.000 đến 50.000.000 đồng.

Đề nghị xử lý trách nhiệm và các biện pháp tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của các bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận 10 Thành phố Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

[2] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình; qua lời khai nhận tội của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cùng vật chứng tạm giữ được, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 11/3/2021, tại lầu 1 quán C2 số 7 S, Phường A, Quận A, các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Thị Cẩm T1, Nguyễn Trí Duy Q1 đã tổ chức cho Nguyễn Gia H1, Nguyễn Quang L1, Trần Lam S, Lâm Quách Trung T5 và Hoàng Trường M đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức đánh bài Poker. Tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc là: 19.715.000 đồng.

Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Thị Cẩm T1, Nguyễn Trí Duy Q1 phạm tội với vai trò tổ chức đánh bạc. Trong đó Q là người đứng ra tổ chức cho các bị cáo H1, L1, M, T5, S đánh bạc dưới hình thức đánh bài Poker thắng thua bằng tiền để lấy tiền xâu. Bị cáo T1 có nhiệm vụ chia bài và nhận tiền xâu từ các con bạc. Q1 có nhiệm vụ là người đổi phỉnh cho các con bạc đồng thời làm chim mồi (tham gia đánh bạc cho đủ tụ khi thiếu người chơi nhưng không thắng thua). Hành vi của Nguyễn Minh Q, Nguyễn Thị Cẩm T1, Nguyễn Trí Duy Q1 đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc với tình tiết định khung có người phục vụ khi đánh bạc được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do đó truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đối với Nguyễn Minh Q, Nguyễn Thị Cẩm T1, Nguyễn Trí Duy Q1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là chưa phù hợp. Tòa án nhân dân Quận 10 đã ban hành Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung để Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 xem xét lại tội danh truy tố đối với Nguyễn Minh Q, Nguyễn Thị Cẩm T1, Nguyễn Trí Duy Q1 do hành vi của các bị cáo có dấu hiệu khách quan của tội “Tổ chức đánh bạc”. Tuy nhiên, ngày 24/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có công văn số 24/CVVKS-HS về việc giữ nguyên cáo trạng số 36/CT-VKSQ10 ngày 28/3/2024.

Căn cứ vào quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử, Tòa án xét xử các bị cáo về những hành vi cao hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Thị Cẩm T1, Nguyễn Trí Duy Q1 đã có hành vi tổ chức, đổi phỉnh, chia bài, thu tiền xâu, hành vi của bị cáo Q, Q1, T1 đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với các bị cáo Nguyễn Gia H1, Hoàng Trương M1, Trần Lam S, Lâm Quách Trung T5, Nguyễn Quang L1 đã có hành vi trực tiếp tham gia sát phạt với nhau. Trong vụ án này, các bị cáo tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài (P5), đây là trường hợp “nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau”. Do vậy các bị cáo Nguyễn Gia H1, Hoàng Trường M, Trần Lam S, Lâm Quách Trung T5, Nguyễn Quang L1 bị truy tố và xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Đối với Lâm Thanh T15, Huỳnh Công T9, Trần Thị Kim T10, Nguyễn Thị Diễm L2, Võ Nguyễn Thảo T11, Trần Văn H4, Trừ Văn L3, Thiên Duy T12, Huỳnh Tấn P, Lê D1, Nguyễn Thành H5, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Tấn V1, Đỗ Thế N3: do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và không ai có tiền án, tiền sự liên quan đến các hành vi quy định tại Điều 321, 322 Bộ luật hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 xử phạt hành chính là có cơ sở.

Đối với Nguyễn Hoài T7 khai nhận không biết việc đánh bạc ăn tiền tại địa điểm do mình quản lý và không hưởng lợi từ việc đánh bạc nên chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự.

Đối với đối tượng tên Dương Văn V2 cùng tham gia đánh bạc, hiện chưa rõ lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào làm rõ xử lý sau. Cơ quan cảnh sát điều tra Quận A đã ra quyết định truy tìm người đối với Dương Văn V2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm rõ, sẽ xử lý sau.

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi của các bị cáo có yếu tố đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc từ trước.

Đối vơi Nguyễn Minh Q là người đã tổ chức cho các bị cáo, hành vi của Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự trị an xã hội. Q còn bị cơ quan cảnh sát điều tra truy nã theo Quyết định truy nã số 02/QĐ-TTXH ngày 04/6/2021. Tuy nhiên, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đồng thời bị cáo còn được khen thưởng trong công tác phòng cháy chữa cháy khi còn là chiến sỹ phòng cháy chữa cháy tại Công an Q3, Tp .. Nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T1 và bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1: Các bị cáo tham gia với vai trò giúp sức tích cực cho người tổ chức. Bị cáo Q1 phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính (theo biên lai thu tiền số AA/2021/0005191 ngày 07/07/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Tp .), có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách và bị cáo phải thực hiện đúng nghĩa vụ trong thời gian thử thách.

Đối với các bị cáo Hoàng Trường M, Trần Lam S, Lâm Quách Trung T5, Nguyễn Gia H1, Nguyễn Quang L1 tham gia thực hiện hành vi với vai trò là người thực hành. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền đánh bạc không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo M, S, T5, H1 phạm tội lần đầu. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền cũng đã đủ răn đe đối với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Minh Q có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thành tích tốt trong công tác tại Công an Q3. Bị cáo Nguyễn Quang L1 có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội ít nghiêm trọng; các bị cáo Nguyễn Gia H1, Trần Lam S, Hoàng Trường M, Lâm Quách Trung T5 có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T1 và Q1 có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, pham tội lần đầu. Q1 còn có hoàn cảnh khó khăn, đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tương ứng với từng bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Số tiền bị cáo Q thu lợi bất chính được từ việc đánh bạc là 16.000.000 đồng. Đối với số tiền 18.700.000 đồng, bị cáo T1 khai đây là số tiền các con bạc cho bị cáo; đối với số tiền 750.000 đồng là tiền bị cáo T5 thắng bạc trước đó, đối với số tiền 4.000.000 đồng là tiền bị cáo L1 khai đã thắng bạc trước đó và số tiền 2.900.000 đồng là tiền công Nguyễn Minh Q trả cho bị cáo Q1. Xét thấy đây là số tiền liên quan đến việc phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tịch thu, nộp ngân sách nhà nước, các bị cáo có trách nhiệm giao nộp lại.

Về vật chứng:

Đối với: 01 bộ bài tây (loại 52 lá), 01 thảm Simili màu xanh đen, số phỉnh có tổng điểm là 19.015 và 01 hộp nhôm bên trong có 293 phỉnh nhựa các loại không có giá trị; do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc điện thoại Iphone 11 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10 thu giữ của bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max thu giữ của bị cáo Nguyễn Gia H1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus thu giữ của bị cáo Trần Lam S; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của bị cáo Hoàng Trường M; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max thu giữ của bị cáo Lâm Quách Trung T5; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang L1. Xét thấy đây là phương tiện mà các bị cáo sử dụng để liên lạc với Nguyễn Minh Q nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ từ bị cáo Nguyễn Gia H1; số tiền 600.000 đồng thu giữ từ bị cáo Trần Lam S, số tiền 500.000 đồng thu giữ từ bị cáo Nguyễn Quang L1 và số tiền 1.100.000 đồng thu giữ từ bị cáo Hoàng Trường M, X thấy đây là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu N5 và số tiền 4.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Trường M; 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 chiếc xe môtô biển số 34M4-3210 thu giữ của bị cáo Trần Lam S, số tiền 14.700.000 đồng thu giữ từ bị cáo Nguyễn Gia H1, đây là tiền bị cáo ứng của Công ty TNHH X1 để đi sửa xe cho Công ty. Tất cả số tài sản này không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

Đối với số tiền 350.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T1; số tiền 1.900.000 đồng của bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1 không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho các bị cáo nhưng kê biên để bảo đảm thi hành án.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt Nguyễn Minh Q 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2023.

- Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt Nguyễn Thị Cẩm T1 01 năm 05 tháng tù nhưng được trừ vào thời gian bị cáo đã bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2021 đến 11/8/2022. Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T1 đã chấp hành xong hình phạt chính.

- Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự).

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia H1 về tội “Đánh bạc” số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, nộp ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Trần Lam S về tội “Đánh bạc” số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, nộp ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Hoàng Trường M về tội “Đánh bạc” số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, nộp ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Lâm Quách Trung T5 về tội “Đánh bạc” số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, nộp ngân sách nhà nước.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L1 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, nộp ngân sách nhà nước về tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tây (loại 52 lá), 01 thảm Simili màu xanh đen, số phỉnh có tổng điểm là 19.015 và 01 hộp nhôm bên trong có 293 phỉnh nhựa các loại.

Trả lại cho:

  • Bị cáo Hoàng Trường M 01 điện thoại di động hiệu Nokia, imel: 353101112885206 và số tiền 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng.
  • Bị cáo Trần Lam S 01 điện thoại di động hiệu Nokia, imel: 354481092867328 và 01 chiếc xe môtô biển số 34M4-3210, màu nâu, loại xe hai bánh, dung tích xi lanh 97, số khung: RL1DCG3UM5B087110, số máy: VUMYG150FMG-087110.
  • Công ty TNHH X1 số tiền 14.700.000 (mười bốn triệu bảy trăm nghìn) đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T1 số tiền 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1 số tiền 1.900.000 (một triệu chín trăm nghìn) đồng. Bị cáo Q1 đã nhận lại theo biên lai thu tiền số AA/2021/0005191 ngày 07/07/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Tp...

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/7/2021 giữa Công an Q2 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Tịch thu, sung nộp Ngân sách nhà nước:

  • 01 chiếc điện thoại Iphone 11;
  • 01 điện thoại di động hiệu S3 S10;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11.
  • Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ từ bị cáo Nguyễn Gia H1;
  • Số tiền 600.000 đồng thu giữ từ bị cáo Trần Lam S,
  • Số tiền 500.000 đồng thu giữ từ bị cáo Nguyễn Quang L1
  • Số tiền 1.100.000 đồng thu giữ từ bị cáo Hoàng Trường M.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo Nguyễn Minh Q số tiền 16.000.000 đồng; Nguyễn Thị Cẩm T1 số tiền 18.700.000 đồng; Lâm Quách Trung T5 số tiền 750.000 đồng; Nguyễn Quang L1 số tiền 4.000.000. Các bị cáo có trách nhiệm giao nộp lại.

Bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1 nộp lại số tiền 2.900.000 đồng. Nhưng được trừ vào biên lai thu tiền số AA/2021/0005191 ngày 07/07/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Tp .. Bị cáo đã nộp lại đủ.

Buộc mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Riêng bị cáo Nguyễn Trí Duy Q1 được trừ vào biên lai thu tiền số AA/2021/0005191 ngày 07/07/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Tp .. Bị cáo đã đóng đủ án phí.

2. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định về án treo)./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Q.10; (2)
  • - Công an Q.10; (1)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (8)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (10)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh Quân và đồng phạm bị VKSND Q10 truy tố về tội Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger