|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 21-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Bùi Đình Hùng
Bà Nguyễn Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 11 tháng 6 năm 1989 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Thôn E, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống hiện nay: Thôn G, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Đỗ Thị N; có vợ là Đoàn Thị P (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2017/HSST ngày 17/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án hình sự sơ thẩm số 114/2019/HS-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án hình sự phúc thẩm số 03/2020/HS-PT ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 114/2019/HS-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên); Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 63/QĐ-TA ngày 09/5/2019 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thời gian chấp hành 18 tháng (đều đã được xoá); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Phạm Văn Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 45 phút ngày 09/01/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T kết hợp Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thành phố H và Công an xã T làm nhiệm vụ tại khu vực bến phà R thuộc thôn D, xã T, huyện T, Hải Phòng phát hiện Nguyễn Văn H có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái H đang mặc có 01 túi nilon, kích thước (02 x 2,5)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy) (mẫu số 1) và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dài 04cm, đường kính 01cm được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy) (mẫu số 2); tại túi quần phía trước bên trái H đang mặc có 01 túi nilon, kích thước (02 x 2,5)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy) (mẫu số 3); tại túi quần phía trước bên phải H đang mặc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, gắn sim số 0788.241.699 đã qua sử dụng, số tiền 592.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16R1-7847. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng thu giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại bản Kết luận giám định số 40/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu số 1 là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, loại Heroine. Chất bột màu trắng của mẫu số 2 là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, loại Heroine. Chất bột màu trắng của mẫu số 3 là ma túy, có khối lượng 0,21 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận: do nghiện ma túy nên H thường xuyên phải đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 09 giờ ngày 09/01/2024, H một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R1-7847 đi đến khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi nilon và 01 ống hút nhựa màu xanh hàn kín hai đầu bên trong đều chứa ma túy Heroine với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy, H cất giấu vào trong người rồi điều khiển xe mô tô về huyện T tìm nơi sử dụng. Khi xuống đến bến phà R thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ tang vật như trên.
Vật chứng của vụ án: 01 bì giấy niêm phong số 40MT/PC09 chứa 0,40 gam (=0,12+0,13+0,15) ma túy Heroine và vỏ bao bì còn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.
Quá trình điều tra xác định 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, gắn sim số 0788.241.699 đã qua sử dụng và số tiền 592.000 đồng thu giữ của H không liên quan đến hành vi phạm pháp của H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình bị cáo.
Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 16R1-7847 đã qua sử dụng thu giữ của H, quá trình điều tra xác định số khung, số máy là số tẩy xóa, chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra làm rõ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 108/CT-VKSTN ngày 23 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn H khai: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ: 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy niêm phong số 40 MT/PC09 chứa chất ma tuý (0,4 gam Heroine) và vỏ bao bì còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi như sau: Do nghiện ma tuý nên khoảng 09 giờ ngày 09/01/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R1-7847 đến khu vực nội thành H mua của một người đàn ông không quen biết 300.000 đồng được 0,57 gam ma túy là loại Heroine, về để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực bến phà R thuộc thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chính vì Nguyễn Văn H có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý với khối lượng trên 0,1 gam ma tuý loại Heroine nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố, kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Khối lượng ma tuý mà bị cáo Nguyễn Văn H tàng trữ là 0,57 gam ma túy Heroine nên bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố, kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn H có hai tiền án, một tiền sự mặc dù đã được xoá nhưng vẫn thể hiện là người có nhân thân không tốt.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, trước đây đã bị Toà án xét xử hai lần về hành vi trộm cắp tài sản, do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và ở mức giữa của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng:
[10] Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 16R1-7847 đã qua sử dụng thu giữ của H, quá trình điều tra xác định số khung, số máy là số tẩy xóa, chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra làm rõ xử lý sau; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, gắn sim số 0788.241.699 đã qua sử dụng và số tiền 592.000 đồng thu giữ của H là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn H, không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình bị cáo, bị cáo đồng ý với việc Cơ quan điều tra trả lại cho gia đình bị cáo. Do đó, đối với những vật chứng này, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[11] Đối với 01 bì giấy niêm phong số 40 MT/PC09 chứa chất ma tuý (0,4 gam Heroine) và vỏ bao bì còn lại sau giám định của Phòng K - Công an thành phố H. Hội đồng xét xử xét: Ma túy là vật cấm lưu hành, sử dụng trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí:
[12] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì giấy niêm phong số 40 MT/PC09 chứa chất ma tuý (0,4 gam Heroine) và vỏ bao bì còn lại sau giám định.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 04 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hằng |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hưng
