Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 21-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuý Vân và bà Lê Thị Ngọc

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 08/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 10/5/2024 đối với bị cáo:

Phạm Minh S (tên gọi khác: S chạch); sinh ngày 01/02/1977 tại TP ., tỉnh Bình Định. Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường Đ, TP ., tỉnh Bình Định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Phạm Đình C (chết) và bà Phạm Thị L (chết); Vợ, con: chưa có;

Tiền án: Có 04 tiền án:

  • Ngày 12/01/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 08/10/2012;
  • Ngày 03/01/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/4/2017;
  • Ngày 18/6/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 25/8/2020;
  • Ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/7/2023.

Nhân thân: Ngày 01/6/2002, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/11/2002; Ngày 04/5/2004, bị Tòa án nhân dân huyện An Lão xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 15/4/2005; Ngày 21/4/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, chấp hành xong hình phạt ngày 01/9/2011;

Ngày 08/5/2024 bị Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố về tội “Huỷ hoại tài sản”.

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2023, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1966 “vắng mặt”
    Trú tại: A T, phường H, TP ., tỉnh Bình Định.
  2. Anh Lê Thái C1, sinh năm: 1984 “Có mặt”
    Trú tại: 1 T, phường L, TP.,Bình Định.
  3. Chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm: 1974 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
    Trú tại: 6 P, phường H, TP ., tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Minh S không có nghề nghiệp, sống lang thang, thường lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/12/2023, Phạm Minh S để bao đựng quần áo cá nhân trước Trung tâm y tế thành phố Q rồi bắt đầu đi bộ tìm tài sản trộm cắp. S đến quán cơm trước cổng Trung tâm y tế thành phố Q thì thấy bà Nguyễn Thị D (Sinh năm: 1966; Chủ quán cơm) đang ngủ trên giường xếp nên lén đến mở ngăn kéo của tủ bán cơm, lục tìm tài sản thì thấy 01 con dao gọt trái cây và 01 cái búa đập đá nên cất vào túi quần rồi bỏ đi. S tiếp tục đi đến trước nhà số A T, phường L, thành phố Q của anh Lê Thái C1 (Sinh năm: 1984) thì thấy cửa sắt khép hờ, không khóa. S vứt con dao gọt trái cây của bà D trước nhà anh C1 rồi đến mở cửa đột nhập vào nhà. S đi theo cầu thang lên tầng 2 thì thấy vợ chồng anh Lê Thái C1 cùng 02 con nhỏ đang ngủ trên nệm trải dưới sàn nhà, trên đầu anh C1 đặt 01 điện thoại di động, dưới chân có 01 túi đeo chéo. S nhặt lấy điện thoại, túi đeo chéo rồi tẩu thoát theo đường cũ ra đường T, thành phố Q. S kiểm tra tài sản vừa chiếm đoạt được thấy có: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen có ốp lưng màu đen kẹp 01 thẻ ATM; Bên trong túi đeo chéo có 01 ví da màu nâu (ví đựng 901.500 đồng và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Thái C1) và 01 một xấp giấy tờ. S lấy xấp giấy tờ ra, không kiểm tra bên trong mà vứt trên đống gỗ đặt đầu hẻm A T, thành phố Q rồi tiếp tục nảy sinh ý định đi tìm xe đạp để trộm cắp làm phương tiện đi lại. S đi vào hẻm F P, thành phố Q thấy một xe đạp màu trắng - xanh hiệu Windows của bà Nguyễn Thị Mỹ N (Sinh năm: 1974) dựng bên hông nhà số F P, phường L, thành phố Q nên chiếm đoạt làm phương tiện đi lại. S đạp xe quay lại trước Trung tâm y tế thành phố Q để lấy bao đồ cá nhân thì bị bà Nguyễn Thị D phát hiện, tri hô “Trộm, trộm”. Lúc này, lực lượng Công an phường H đi tuần phát hiện nên giữ S lại, đưa về làm việc và S đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Công an phường H tiến hành đưa S đi truy tìm xấp giấy tờ đã vứt bỏ và tìm được tại đầu hẻm A T, thành phố Q. Tiến hành kiểm tra bên trong xấp giấy tờ có số tiền 3.528.000 đồng.

Ngày 10/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen trị giá 800.000 đồng; Ốp lưng màu đen cho dòng điện thoại di động S1 A14 trị giá 5.000 đồng;
  • 01 túi đeo chéo màu xám đen có logo in chữ “EARTH MUSIC&ECOLOGY" trị giá 50.000 đồng;
  • 01 ví da màu nâu hiệu “Crocodile Fashion” trị giá 20.000 đồng;
  • 01 chiếc xe đạp màu trắng - xanh hiệu Windows trị giá 400.000 đồng;
  • 01 búa đập đá bằng kim loại trị giá 5.000 đồng;
  • 01 con dao hiệu KINWI dài 21cm, có cán nhựa màu vàng dài 9.5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11.5cm trị giá 10.000 đồng.

Vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an T đã tạm giữ và trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 có ốp lưng màu đen kẹp 01 thẻ ATM Ngân hàng V mang tên “LE THAI CHAU"; 01 túi đeo chéo màu xám đen, có logo in chữ “EARTH MUSIC&ECOLOGY”; 01 ví da màu nâu hiệu “Crocodile Fashion” bên trong có 901.500 đồng và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Thái C1; Tiền Ngân hàng N1: 3.528.000 đồng; 04 tờ hóa đơn bán hàng của Nhà phân phối Hưng P đều có kích thước (15x21)cm cho bị hại Lê Thái C1; 01 búa đập đá bằng kim loại và 01 con dao (Loại gọt trái cây) hiệu KINWI cho bị hại Nguyễn Thị D; 01 chiếc xe đạp màu trắng - xanh hiệu Windows cho bị hại Nguyễn Thị Mỹ N.

Về dân sự: các bị hại bà Nguyễn Thị D, anh Lê Thái C1, bà Nguyễn Thị Mỹ N đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKSQN ngày 08/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm Minh S về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phạm Minh S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh S từ 03 năm tù đến 04 năm tù.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Phạm Minh S thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 13/12/2023 bị cáo Phạm Minh S đã lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị D 01 con dao gọt trái cây và 01 cái búa đập đá có tổng trị giá 15.000 đồng; lén lút chiếm đoạt của anh Lê Thái C1 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen có trị giá 800.000 đồng, 01 ốp lưng điện thoại màu đen dùng cho dòng điện thoại di động S1 A14 có trị giá 5.000 đồng, 01 túi đeo chéo màu xám-đen có logo in chữ “EARTH MUSIC&ECOLOGY” có trị giá 50.000 đồng, 01 ví da màu nâu hiệu “Crocodile Fashion” có trị giá 20.000 đồng và 4.429.500 đồng; lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Mỹ N 01 xe đạp màu trắng - xanh hiệu Windows có trị giá là 400.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo lén lút chiếm đoạt là 5.719.500 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ sức khỏe, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đã từng nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nên biết rất rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh nhưng vì tham lam, chây lười lao động, có ý thức xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” tiếp tục 03 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng trị giá là 5.719.500 đồng nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm Minh S về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương, bị cáo nhiều lần bị Toà án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người tốt mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

4.1. Bị cáo có nhân thân xấu.

4.2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản 03 lần, mỗi lần đều cấu thành tội phạm nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, tại phiên toà bị hại Lê Thái C1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử cũng xem xét xử phạt bị cáo một mức án có lý có tình để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại Nguyễn Thị D, Lê Thái C1, Nguyễn Thị Mỹ N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh S phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Minh S 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 13/12/2023.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ THAHS CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Quy Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Thị Hồng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 13/12/2023 bị cáo Phạm Minh S đã lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị D 01 con dao gọt trái cây và 01 cái búa đập đá có tổng trị giá 15.000 đồng; lén lút chiếm đoạt của anh Lê Thái C1 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen có trị giá 800.000 đồng, 01 ốp lưng điện thoại màu đen dùng cho dòng điện thoại di động S1 A14 có trị giá 5.000 đồng, 01 túi đeo chéo màu xám-đen có logo in chữ “EARTH MUSIC&ECOLOGY” có trị giá 50.000 đồng, 01 ví da màu nâu hiệu “Crocodile Fashion” có trị giá 20.000 đồng và 4.429.500 đồng; lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Mỹ N 01 xe đạp màu trắng - xanh hiệu Windows có trị giá là 400.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo lén lút chiếm đoạt là 5.719.500 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger