Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

 

Bản án số: 99/2025/DS-PT

Ngày: 04-6-2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và yêu

cầu huỷ quyết định cá biệt”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Nguyễn Thành Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Tất Thái – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 135/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 105/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Kiều L, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số nhà H thôn Y, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ninh Văn H, sinh năm 2000. Địa chỉ: Số nhà A đường T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 23/4/2025). Có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Cao T1 – Luật sư Văn phòng L4 thuộc đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Cụ Lê Thị D, sinh năm 1938. Địa chỉ: Tổ F, thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    2. Bà Đặng Thị Kim M, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    3. Chị Đinh Thị Thu U, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

      Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Thu U: Ông Lê Cao T1 – Luật sư Văn phòng L4 thuộc đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt.

    4. Anh Đinh Tiến Đ, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    5. Ông Đặng Đình H1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    6. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. địa chỉ: Số A đường B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện hợp pháp của UBND huyện Đ: Ông Lưu Đình C – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 06/UQ-UBND ngày 22/3/2024). Vắng mặt.

    7. Ông Đinh Văn Đ1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số nhà H thôn K, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    8. Ông Đinh Đ2, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    9. Ông Đinh Văn P, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    10. Ông Đinh Văn L1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    11. Văn phòng C1. Địa chỉ: Số nhà E đường P, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện hợp pháp của Văn phòng C1: Bà Phạm Thị Thùy T2 – Trưởng Văn phòng. Là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

    12. Văn phòng C2. Địa chỉ: Số nhà A đường B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện hợp pháp của Văn phòng C2: Ông Nguyễn Văn T3 – Trưởng Văn phòng. Là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

    13. Bà Thái Thị Thu H2, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà C đường H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đoàn Thị Kiều L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Đoàn Thị Kiều L trình bày:

Năm 2013, bà Thái Thị Thu H2 phải thanh toán nợ cho một số người nên bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương kê biên thi hành án các khoản nợ của bà H2. Sau đó, giữa bà và H2 và các chủ nợ đã tự thương lượng được với nhau nên Chi cục giải tỏa quyết định kê biên. Ngày 06/9/2013, bà nhận chuyển nhượng diện tích 5.886m² thuộc thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 tại xã L, huyện Đ của bà H2. Diện tích đất này có nguồn gốc của cụ Lê Thị D, cụ D chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H2 ngày 02/4/2010 tại Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C1).

Sau khi bà nhận chuyển nhượng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến kiểm tra đất để sử dụng thì được biết bà Huỳnh Thị T đang sử dụng đất nên bà yêu cầu bà T trả đất nhưng bà T không đồng ý. Sự việc đã được UBND xã L hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T trả lại thửa đất trên cho bà. Tuy nhiên, hiện nay bà chỉ yêu cầu bà T trả lại diện tích 4.772m² theo hiện trạng sử dụng thực tế.

- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Huỳnh Thị T trình bày:

Năm 2003, bà và chồng là ông Đinh Văn L2 nhận chuyển nhượng của cụ Lê Thị D diện tích 5.886m² đất thuộc thửa 259, tờ bản đồ số 20 tại xã L, huyện Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L027408 với giá 8.000.000 đồng. Năm 2006 bà ly hôn với ông L2, Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương chia tài sản chung của vợ chồng và tạm giao diện tích đất 5.886m² nói trên cho ông L2. Sau một thời gian canh tác đất, ông L2 đi chấp hành án về lâm bệnh nặng rồi qua đời ngày 23/4/2010 nên chưa làm thủ tục chuyển nhượng đất với cụ D. Sau đó, bà được biết ông Đặng Đình H1 là con của cụ D mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ D vay vốn của bà Thái Thị Thu H2. Việc vay vốn giữa ông H1 và bà H2 như thế nào thì bà không biết. Diện tích đất này là của ông L2 để lại cho các con là chị Đinh Thị Thu U và anh Đinh Tiến Đ. Bà không đồng ý trả 5.886m² đất này cho bà L. Đồng thời bà có yêu cầu phản tố hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ D với bà H2; hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà H2 với bà L; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 xã L, huyện Đ do UBND huyện Đ cấp cho bà L.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đinh Thị Thu U và anh Đinh Tiến Đ trình bày:

Các anh chị là con của ông L2, bà T; anh chị thống nhất với lời trình bày của bà T. Anh chị có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ D với bà H2; hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà H2 với bà L; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 xã L, huyện Đ do UBND huyện Đ cấp cho bà L.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn P, ông Đinh Văn L1, ông Đinh Đ2 và ông Đinh Văn Đ1 (là những người thừa kế của bà Đỗ Thị H3 - mẹ ruột của ông L2) trình bày:

Các ông là anh em ruột của ông Đinh Văn L2. Bố mẹ của các ông là cụ Đinh H4 (chết năm 1985) và cụ Đỗ Thị H3 (chết năm 2010); cụ H4 và cụ H3 có 06 người con là ông Đinh Văn P, ông Đinh Văn L1, ông Đinh Đ2, ông Đinh Văn Đ1, bà Đinh Thị L3 (chết năm 2007) và ông Đinh Văn L2 (chết năm 2010). Về phần đất 5.886m² mà cụ D chuyển nhượng cho ông L2 hiện nay bà L đang tranh chấp với bà T và chị U, anh Đ thì các ông không có tranh chấp với bà T cũng như chị U, anh Đ. Nếu các ông có quyền lợi gì từ diện tích đất này thì cũng giao toàn bộ cho chị U, anh Đ có toàn quyền quản lý, sử dụng. Các ông không có tranh chấp trong vụ án này.

- Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Lê Thị D trình bày:

Diện tích đất 5.886m² do cụ đứng tên nhưng thực tế là của ông Đặng Đình H1 (con trai cụ) khai phá. Ông H1 chuyển nhượng lại cho em gái của mình là bà Đặng Thị Kim M. Sau đó bà M chuyển nhượng cho ông L2. Do ông H1, bà M đều là con của cụ đề nghị cụ ký vào giấy sang nhượng đất cho ông L2 nên cụ đã ký bên chuyển nhượng trong giấy chuyển nhượng đất viết tay ngày 15/5/2003 cho ông L2. Thực tế cụ là người đứng tên chuyển nhượng, về tiền chuyển nhượng thì ông L2 đưa trực tiếp cho bà M. Năm 2010, ông Đặng Đình H1 cần vốn làm ăn nên mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ để thế chấp vay vốn. Ông H1 yêu cầu cụ ký vào giấy ủy quyền cho ông H1 thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền nên cụ đã ký vào giấy ủy quyền. Sau này, nghe công an mời làm việc cụ mới biết mình đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 5.886m² mà trước đó cụ đã chuyển nhượng cho ông L2. Cụ không đồng ý việc bà L yêu cầu bà T trả đất vì đất đó cụ đã chuyển nhượng cho ông L2, bà T từ năm 2003 nên không có trách nhiệm gì với các bên vì cũng là nạn nhân trong sự việc này. Đối với các yêu cầu của bà T, anh Đ, chị U về tuyên bố hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ với bà H2; hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà H2 với bà L; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 xã L, huyện Đ do UBND huyện Đ cấp cho bà L thì cụ cho rằng cụ bị ông H1 lừa ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà H2 nên nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ và bà H2 vô hiệu thì bà H2 tìm ông H1 thương lượng, giải quyết. Cụ không có yêu cầu ai bồi thường và cũng không chấp nhận bồi thường cho ai nếu như hợp đồng chuyển nhượng đất giữa cụ với bà H2 và hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà H2 với bà L vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Đình H1 trình bày:

Diện tích 5.886m² đất tranh chấp trong vụ án này do ông khai phá khoảng từ năm 1982 đến năm 1983. Do cụ D là chủ hộ nên ông để cụ D đứng tên toàn bộ giấy tờ đất đai giúp ông. Năm 1994, ông chuyển nhượng lại phần đất này cho bà M với giá 02 chỉ vàng (thỏa thuận bằng lời nói, không lập văn bản). Năm 2010, ông đưa cụ D đến Văn phòng C3 để ký hợp đồng chuyển nhượng thửa 259, tờ bản đồ số 20 xã L cho bà H2. Ông nói rõ với cụ D ký hợp đồng chuyển nhượng đất là để vay tiền của bà H2, khi nào có tiền ông sẽ chuộc lại đất cho cụ D. Giá chuyển nhượng đất cho bà H2 là 100.000.000 đồng. Năm 2003, cụ D lập giấy chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông L2, bà T ông không biết. Nay ông không đồng ý việc bà L khởi kiện yêu cầu bà T trả đất vì hợp đồng chuyển nhượng đất giữa cụ D và bà H2 chỉ nhằm mục đích cho ông vay tiền. Ông có trách nhiệm trong việc cụ D ký giấy chuyển nhượng đất cho bà H2. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim M trình bày:

Thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20, xã L là của gia đình bà và cụ D đứng tên, khi ông H1 có vợ thì gia đình bà cho ông H1 diện tích đất này. Sau đó, ông H1 chuyển nhượng lại cho bà với giá 02 chỉ vàng. Sau đó, bà chuyển nhượng cho ông L2, bà T với giá 8.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng đất giữa ông H1 với bà và giữa bà với ông L2, bà T chỉ bằng lời nói; vợ chồng ông L2, bà T cũng chưa làm thủ tục sang tên. Năm 2010, ông H1 cần vốn làm ăn nên mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ D để thế chấp vay vốn. Nội dung thế chấp vay vốn thế nào thì bà không rõ. Bà chỉ biết đất sau đó đứng tên bà H2 và bà H2 chuyển nhượng lại cho bà L.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị Thu H2 trình bày:

Tháng 4/2010, bà nhận chuyển nhượng đất của cụ D. Việc chuyển nhượng đất giữa cụ D và bà đã hoàn tất, bà đã làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BL 473445 ngày 05/10/2012. Tháng 9/2013, bà chuyển nhượng thửa đất 5.886m² trên cho bà L, hai bên đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C2). UBND huyện Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA024883 ngày 05/5/2015 cho bà L. Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà L và bà T bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chúng Phạm Thị Thùy T2 trình bày:

Ngày 25/11/2017, Văn phòng C1 (trước là Văn phòng C3) đã thực hiện thủ tục công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 515, quyển số 01-TP/CC- SCC/HĐGD ngày 02/4/2010 giữa cụ D và bà H2 theo đúng quy định của pháp luật. Bên chuyển nhượng có đủ điều kiện phù hợp theo quy định của pháp luật để chuyển nhượng; bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, tại thời điểm công chứng các bên có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận của các bên trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên văn phòng công chứng khẳng định hợp đồng chuyển nhượng nêu trên hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T3 trình bày:

Ngày 06/9/2013, Văn phòng C2 nhận được yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà H2 và được văn phòng chứng nhận theo số công chứng: 0122, quyển số 01-TP/CC- SCC/HĐGD cụ thể là: Thửa đất số 259 tờ bản đồ số 20 tại Thôn K, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 473445 do UBND huyện Đ cấp ngày 05/10/2012. Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T3 đã tiếp nhận và thực hiện công chứng đúng quy định của pháp luật.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện Đ trình bày:

UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H2 là căn cứ theo hợp đồng chuyển nhượng của các bên được Văn phòng công chứng công chứng theo quy định. Sau này, bà H2 lại tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 259 cho bà L là cũng đúng theo quy định, do vậy việc bị đơn yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa có cơ sở. Tuy nhiên, về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất là do bà T và chồng là ông Đinh Văn L2 nhận chuyển nhượng của cụ Lê Thị D năm 2003, đến năm 2006 vợ chồng bà T ly hôn, trong bản án ly hôn số 04/2006/TTLH ngày 24/01/2006 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương đã giao diện tích đất 5.886m² thuộc thửa 259, tờ bản đồ số 20 tại xã L cho ông L2 sử dụng. Năm 2010, ông L2 chết thì bà T, cháu U, cháu Đ con ông L2 sử dụng ổn định phần đất này cho đến nay. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 41/2021/DS-ST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, đã xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Kiều L về việc buộc bị đơn bà Huỳnh Thị T phải trả diện tích đất là 4.772m² thuộc thửa đất số 259 tờ bản đồ số 20 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho bà Đoàn Thị Kiều L.
  • Giao cho bà Đoàn Thị Kiều L quản lý tài sản trên đất là giếng khoan, nhà, hồ đào, cây trồng có giá trị 69.000.000 đồng. Bà L có trách nhiệm phải thanh toán cho bà T số tiền 69.000.000 đồng.
  • Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị T về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị D và bà Thái Thị Thu H2; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Thái Thị Thu H2 với bà Đoàn Thị Kiều L; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 5.886m² đất thuộc thửa đất số 60 tại xã L, huyện Đ cấp cho bà Đoàn Thị Kiều L.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 02/01/2022 và ngày 04/01/2022, bị đơn bà Huỳnh Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Tiến Đ, chị Đinh Thị Thu U cùng kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Ngày 27/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS đề nghị hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại bản án Dân sự phúc thẩm số 38/2022/DS-PT ngày 25/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đã xử:

Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2021/DS-ST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, đã xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Kiều L về việc buộc bị đơn bà Huỳnh Thị T trả lại diện tích đất 5.886m² (do đạc thực tế là 4.772m²) thuộc thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  • Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị T và yêu cầu khởi kiện độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đinh Tiến Đ và chị Đinh Thị Thu U. Tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lê Thị D với bà Thái Thị Thu H2 số công chứng 515 quyển số 01-TP/CC- SCC/HĐGD ngày 02/4/2010 tại Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C1) và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Thái Thị Thu H2 với bà Đoàn Thị Kiều L số công chứng 0122, quyển số 01-TP/CC- SCC/HĐGD tại văn phòng C2 đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 tại Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là vô hiệu.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 02/10/2025 nguyên đơn bà Đoàn Thị Kiều L kháng cáo toàn bộ nội dung vụ án, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo.

Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Tiến Đ, chị Đinh Thị Thu U và người bảo vệ, quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, anh Đ, chị U đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và bổ sung cách tuyên là các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 tại Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Tiến Đ vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ D, bà M, ông H1, UBND huyện Đ, ông Đ1, ông Đ2, ông P, ông L1, bà H2 và các Văn phòng công chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của bà Đoàn Thị Kiều L, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[3]. Qua xem xét kháng cáo của bà Đoàn Thị Kiều L thì thấy rằng:

[3.1]. Theo hồ sơ vụ án thể hiện: Nguồn gốc thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là do ông Đặng Đình H1 khai phá nhưng để cho mẹ là cụ Lê Thị D đứng tên quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L027408 do UBND huyện Đ cấp ngày 23/12/1997. Sau đó, ông H1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 259 nêu trên cho em gái là bà Đặng Thị Kim M. Năm 2003, bà M chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này cho vợ chồng bị đơn bà Huỳnh Thị T và ông Đinh Văn L2; việc chuyển nhượng này cũng được người làm chứng là ông Bùi Bạch Minh xác N (ông M1 là người đã được bà T nhờ viết giấy tay sang nhượng quyền sử dụng thửa đất 259 ngày 15/5/2003 giữa vợ chồng bà T và gia đình cụ D). Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà T, ông L2 cũng đã thanh toán đủ tiền chuyển nhượng và nhận đất, sử dụng ổn định (làm nhà tạm, đào giếng, trồng cây) không tranh chấp. Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 259 giữa cụ D và ông L2, bà T là hợp pháp.

Trong khi đó ông H1 cũng trình bày việc ông để cụ D ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 259 giữa bà D và bà Thái Thị Thu H2 là để đảm bảo cho việc vay tiền giữa ông với bà H2, không có việc chuyển quyền sử dụng đất trên thực tế. Quá trình giải quyết vụ án, ông H1 và bà H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm rõ việc vay tiền nhưng ông H1 và bà H2 đều vắng mặt. Thực tế bà H2 cũng không nhận bàn giao đất từ cụ D, bà H2 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc đã giao tiền chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 259 cho bên bán. Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 259 giữa cụ D và bà H2 là nhằm để che giấu việc vay tiền giữa ông H1 và bà H2; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 259 giữa cụ D và bà H2 không có hiệu lực pháp luật nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 259 giữa bà H2 với nguyên đơn bà T cũng vô hiệu.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc buộc bị đơn bà T trả lại cho bà diện tích đất 5.886m² (do đạc thực tế là 4.772m²) thuộc thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và chấp nhận yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đinh Thị Thu U, anh Đinh Tiến Đ về việc tuyên các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 259 giữa cụ D với bà H2 và giữa bà H2 với bà L vô hiệu là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3.2]. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm thì cụ D, bà H2 và bà L không có tranh chấp với nhau và cũng không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu nên không xem xét.

[3.3]. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn thì xét thấy: Năm 2006 thì ông L2 và bà T ly hôn theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 04/2006/TTLH ngày 24/01/2006 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương. Tại quyết định số 04 này ghi nhận quyền sử dụng thửa đất 259, tờ bản đồ số 20 tọa lạc xã L, huyện Đ là tài sản chung của ông L2, bà T và quyết định tạm giao quyền sử dụng thửa đất 259 cho ông L2 quản lý, sử dụng. Đến năm 2010 ông L2 chết, bà T đã ly hôn ông L2 năm 2006 nên không phải là người thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng thửa đất 259 nêu trên của ông L2. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị T.

Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo những nhận định trên.

[4]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 7.348.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp chi phí định giá tài sản tranh chấp là 1.500.000 đồng, bị đơn đã nộp 5.848.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Do đó, nguyên đơn phải thanh toán lại cho bị đơn số tiền 5.848.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật.

[5]. Về án phí:

  • - Án phí sơ thẩm: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu độc lập của anh Đ, chị U được Tòa án chấp nhận; bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu phản tố không được chấp nhận theo quy định của pháp luật.
  • - Án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Thị Kiều L; sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Kiều L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn bà Huỳnh Thị T.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị T.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Tiến Đ và chị Đinh Thị Thu U.

    Tuyên bố các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lê Thị D với bà Thái Thị Thu H2 có số công chứng 515 quyển số 01-TP/CC- SCC/HĐGD ngày 02/4/2010 tại Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C1) và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Thái Thị Thu H2 với bà Đoàn Thị Kiều L có số công chứng 0122, quyển số 01-TP/CC- SCC/HĐGD tại văn phòng C2 đối với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 20 tại Thôn K Mới C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là vô hiệu.

    Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê khai, điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  4. Về chi phí tố tụng: Bà L phải thanh toán lại cho bị đơn bà T số tiền 5.848.000 (Năm triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn) đồng chi phí tố tụng.
  5. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:

      Bà L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà L đã nộp là 10.000.000 (Mười triệu) đồng theo Biên lai thu số AA/2015/0000849 ngày 16/12/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Bà L được hoàn trả lại 9.400.000 (Chín triệu bốn trăm nghìn) đồng.

      Bà T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà T đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số AA/2015/0003652 ngày 02/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Bà T đã nộp đủ án phí.

      Hoàn trả cho anh Đinh Tiến Đ và chị Đinh Thị Thu U mỗi người 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0002296 ngày 23/11/2023 và Biên lai thu số 0002297 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Về nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành Án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND huyện Đơn Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Đơn Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: lưu trữ, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Châu Thạch Nguyễn Văn Thanh

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt

  • Số bản án: 99/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger