TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2025/DS-PT
Ngày: 25/03/2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Các Thẩm Phán: Bà Nguyễn Thị Quyên
Ông Nguyễn Đình Trung
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đức Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 444/2024/DS - PT ngày 26/12/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXX-PT ngày 06/02/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 140/2024/QĐ-PT ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Lệ T, sinh năm: 1970
HKTT: Số E P, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Tổ C, ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm: 1954. Địa chỉ: Số D, đường B, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền ngày 13/3/2021).
- Bị đơn: Bà Phùng Thị Hồng T1, sinh năm: 1975
HKTT: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trịnh Thị Kim N -Văn phòng L1 - Đoàn luật sư thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1968.
Địa chỉ: Tổ C, ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
+ Ngân hàng N1 (A)
Địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T2 - Giám đốc A Chi nhánh thành phố L, Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền số 2655 ngày 01/12/2022)
+ Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H (Ngân hàng H2).
Địa chỉ: B B, N, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang V - Chuyên viên QHKH và/hoặc ông Nguyễn Quang L - Trưởng phòng KHCN. Địa chỉ: E H, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền số 31/2024/UQ-HDBANK ngày 07/09/2024)
(Ông Đ, bà T1, ông C, Luật sư Nữ có mặt, các đương sự khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/03/2021; đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 26/06/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn bà Lê Thị Lệ T (Do ông Nguyễn Đức Đ đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Bà Lê Thị Lệ T là chủ sở hữu quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm với diện tích 4059,3 m² theo thửa đất số 09, tờ bản đồ số 41 ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD.155708 cấp ngày 01/6/2016 đứng tên bà Lê Thị Lệ T. Trên đất đã xây dựng nhà và trồng cây gắn liền với đất, xung quanh đất được bao bọc bằng hàng rào dâm bụt.
Vào ngày 12/01/2021, gia đình bà Phùng Thị Hồng T1, là chủ sử dụng đất thửa 07, tờ bản đồ 41 ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, có ranh đất liền kề với phần đất của bà T đang sử dụng, đã làm lại trụ cổng hàng rào bằng lưới B40, đã lấn chiếm sang phần đất của bà T đang sử dụng với diện tích 0,4 m² (0,7m x 01m)/2, hình tam giác. Khi phát hiện, bà T đã nhắc nhở và trình báo, khiếu nại đến UBND xã H. Qua xác minh, làm việc và tổ chức việc hòa giải, đã xác định được việc bà Phùng Thị Hồng T1 đã trồng trụ sắt và hàng rào lấn chiếm đất của bà T. Đề nghị phải trả lại phần đất lấn chiếm, tự tháo dỡ trụ rào, nhưng việc hòa giải không thành.
Sau khi đo vẽ, chồng ghép bản đồ, bà T có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 26/6/2023. Cụ thể bà T yêu cầu bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Võ Văn C1 phải trả lại diện tích đất lấn chiếm kích thước 72,59 m² thuộc thửa đất số 09, tờ bản đồ số 41, xã H, thành phố L; Gồm 03 đoạn giáp ranh theo các mốc (3,30,29,28,2,3) = 0,69 m²; (31,61,62,63,39,38,37,36,35,34,33,32,31) = 22,5 m²; (39,19,40,39) = 49,4 m² . Đồng thời, phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm gồm hàng rào lưới B40, cột sắt, cửa sắt lưới B40, nền bê tông để di dời đến vị trí mới, nguyên đơn tự nguyện cùng với bị đơn tháo dỡ.
Nguyên đơn đồng ý tự nguyện giao trả lại cho bị đơn diện tích 0,87 m² gồm các mốc (29,30,31,60,29) thuộc một phần thửa 07, tờ bản đồ 41 là phần đất được xác định nguyên đơn có lấn sang đất của bị đơn, để không phải tranh chấp sau này.
- Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phúc thẩm bị đơn bà Phùng Thị Hồng T1 trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn C là chủ sử dụng diện tích đất 6817,9 m² thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ 41 tọa lạc tại ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyên sử dụng đất số CB 763047 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 12/10/2015.
Nguồn gốc của thửa đất số 07, tờ bản đồ số 41 (thửa cũ là thửa 55, tờ bản đồ số 14) là nhận thừa kế của bà Phùng Thị R (bà nội của bà T1, mất năm 1996). Vợ chồng bà T1, ông C đã quản lý, sử dụng và sinh sống trên diện tích đất này từ hồi bà R đang còn sống. Từ năm 1987, bà R có chuyển nhượng một phần diện tích đất của bà cho bà Phạm Thị C2. Ông Thái Văn H, sinh năm 1962 là con của bà Phạm Thị C2 cũng sống trên phần đất bà C2 nhận chuyển nhượng từ bà R.
Thời điểm chuyển nhượng đất cho bà C2 thì các bên không có đo đạc mà chỉ chỉ ranh giới với nhau và có trồng hàng rào bằng cây dâm bụt từ đầu đất đến cuối đất để phân định hai thửa đất với nhau. Sau này hai bên đi kê khai làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vào năm 2004, bà T1 và ông C được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 8.950 m² thuộc thửa 55, tờ bản đồ 14 (nay là thửa 07, tờ bản đô 41); ông H, bà H1 (con đẻ và con dâu bà C2) được cấp 5650 m² thuộc thửa 54, tờ bản đô 14 (nay là thửa 09, tờ bản đồ 41).
Do thời điểm này, UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự chênh lệch về diện tích khi đo đạc thành lập lại bản đồ địa chính mới nên năm 2015, xã tiến hành cấp đổi đồng loạt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân. UBND xã hướng dẫn người dân đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ để xã làm thủ tục cấp đổi lại. Thời điểm cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có đo đạc lại, ông C và bà T1 xác nhận chỉ có nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở UBND xã H không có biên bản đo đạc hay ký giáp ranh gì.
Trong phiếu thẩm định hồ sơ và đơn đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của hai hồ sơ cấp đổi của bà T1, ông C và ông H, bà H1 vào năm 2015 đều xác nhận nội dung "Ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, sử dụng ổn định, không tranh chấp với các chủ sử dụng đất liền kề”.
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được cấp đổi năm 2015 thì bà T1 và ông C được cấp diện tích 6817,9 m² thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ 41; ông H, bà H1 được cấp diện tích 4059,3 m² thuộc thửa số 09, tờ bản đồ 41 tọa lạc tại ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Năm 2019, bà T1 có thế chấp diện tích đất trên cho ngân hàng H2.
Sau khi được cấp đổi sổ, do làm ăn khó khăn thất bại nên ông H, bà H1 đã chuyển nhượng diện tích đất của mình cho bà Lê Thị Lệ T. Tại thời điểm bà T nhận chuyển nhượng thì hàng rào dâm bụt vẫn còn hiện hữu, bà T cũng không có ý kiến gì đối với ranh giới đất. Vào khoảng năm 2020, xã có làm đường bê tông nên có chặt hàng dâm bụt bên phần đất của bà T để làm đường, còn hàng rào dâm bụt phân chia ranh giới hai thửa đất số 07 và 09 thì vẫn để nguyên.
Đến năm 2020, bà T1, ông C có áp lưới B40 theo hàng rào dâm bụt ở phần đầu trên đất thì mới xảy ra tranh chấp với bà T. Bà T cho rằng bà T và ông C lấn chiếm 0,4 m² đất của bà T1 và làm đơn kiện tại UBND xã và Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
Vào ngày 31/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh có tiến hành buổi xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc diện tích đất thửa 07 và 09 thì hàng cây dâm bụt vẫn còn (điều này được thực hiện tại trích lục và đo hiện trạng bản đồ địa chính số 4159/2022 của VPĐK đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh L2 thực hiện ngày 09/5/2022).
Sau khi Tòa án tiến hành đo đạc xong thì phía ông T4 (là chồng của bà Lê Thị Lệ T3) có bàn bạc và thỏa thuận với bà T3 và ông C về việc rào hàng lưới B40 ở phần sau của đất thay thế cho hàng cây dâm bụt để bảo vệ tài sản trên đất. Hai bên thống nhất sẽ chặt cây dâm bụt, cùng nhau hùn tiền để mua cọc, mua bê tông và lưới để kéo (chiều dài khoảng 110 mét), ông C và ông T4 cùng nhau đóng cọc và kéo lưới, có thuê ông K sinh năm 1965 là người cùng ấp để khoan lỗ.
Như vậy, trong suốt quá trình được nhận thừa kế, sử dụng đất từ trước đến nay và từ năm 1987 khi bà R bán một phần đất cho bà C2, bà C2 bán cho ông H, bà H1 thì hàng rào dâm bụt đã có từ đó đến nay, hiện diện trên diện tích đất này không ai tranh chấp, sử dụng ổn định. Ngay cả khi bà T là người nhận chuyển nhượng đất vào năm 2016 cũng không có ý kiến gì đối với ranh đất. Việc bà T3, ông C kéo lưới B40 chỉ áp vào hàng rào dâm bụt có sẵn, không hề có hành vi xê dịch hay lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà T.
Theo trích lục và đo vẽ hiện trạng bản đồ địa chính số 4159/2022 của VPĐK đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 thực hiện ngày 9/5/2022 thì có một phần đất theo các mốc (29,30,31,60,29) đang nằm trên bản đồ địa chính thửa 07, tờ bản đồ 41 với diện tích 0,87 m², phía bị đơn không phản tố vì thực tế thì bị đơn và nguyên đơn không ai lấn của ai, sử dụng đất theo phần đã phân định theo hàng dâm bụt.
Do đó, bà T3 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T về việc trả đất và tháo dỡ công trình xây dựng trên đất vì ông C, bà T3 không lấn đất. Đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định pháp luật.
Đối với việc nguyên đơn tự nguyện giao trả lại cho bị đơn diện tích 0,87 m² gồm các mốc (29,30,31,60,29) thuộc một phần thửa 07, tờ bản đồ 41 là phần đất được xác định nguyên đơn có lấn sang đất của bị đơn, bị đơn đồng ý không có ý kiến gì.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông C hoàn toàn thống nhất với ý kiến của bà T3.
- Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 (gọi tắt là Ngân hàng A) trình bày: Ngân hàng A không có yêu cầu độc lập, không có yêu cầu gì trong việc giải quyết vụ án.
Ngân hàng A có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (gọi tắt Ngân hàng H2) trình bày: Ngân hàng H2 không có yêu cầu độc lập, không có yêu cầu gì trong việc giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 166, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 105, Điều 158, Điều 175, Điều 176, Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 166, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai 2013; khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Lệ T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 72,59 m²; Gồm 03 đoạn giáp ranh theo các mốc (3,30,29,28,2,3) = 0,69 m²; (31,61,62,63,39,38,37,36,35,34,33,32,31) = 22,5 m² ; (39,19,40,39) = 49,4 m² theo bản trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 4159/2022 ngày 09/5/2022 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 thực hiện với bị đơn bà Phùng Thị Hồng T1.
- Buộc bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả lại cho bà Lê Thị Lệ T quyền sử dụng đất của diện tích đất 72,59 m²; gồm 03 đoạn giáp ranh theo các mốc (3,30,29,28,2,3) = 0,69 m²; (31,61,62,63,39,38,37,36, 35,34,33,32,31) = 22,5 m² ; (39,19,40,39) = 49,4 m² theo bản trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 4159/2022 ngày 09/5/2022 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 thực hiện.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Lệ T về việc bà Lê Thị Lệ T cùng có nghĩa vụ với bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C trong việc tháo dỡ toàn bộ tài sản trên phần đất tranh chấp diện tích 72,59 m² gồm hàng rào lưới B40, cột sắt, cửa sắt lưới B40, nền bê tông và di dời đến vị trí mới.
Ngoài ra còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 11/10/2024, bà Phùng Thị Hồng T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lê Thị Lệ T.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.
Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phùng Thị Hồng T1.
Sửa án sơ thẩm về cách tuyên:
+ Buộc bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C trong việc tháo dỡ toàn bộ tài sản trên phần đất tranh chấp diện tích 72,59 m² gồm hàng rào lưới B40, cột sắt, cửa sắt lưới B40, nền bê tông và di dời đến vị trí mới .
+ Đường lối giải quyết vụ án đề nghị giữ nguyên như bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của TAND thành phố Long Khánh.
+ Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Lê Thị Lệ T về việc đồng ý giao trả lại cho bị đơn bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C phần diện tích đất 0,87 m² giới hạn ở các mốc (29,30,31,60,29) thuộc một phần thửa 07, tờ bản đồ 41, ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
Các nội dung khác đã tuyên giữ nguyên như bản án sơ thẩm.
Ý kiến Luật sư Trịnh Thị Kim N bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Lý do kháng cáo: Tòa án sơ thẩm không khách quan trong việc thu thập, công khai, đánh giá chứng cứ, nội dung bản án tuyên không phù hợp với quy định pháp luật và những tỉnh tiết khách quan của vụ án; việc chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Lệ T là vô lý, không phù hợp, không có căn cứ gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn trong Đơn khởi kiện ngày 05/03/2021 và Đơn khởi kiện ngày 26/06/2023. Tại phiên Tòa hôm nay yêu cầu bổ sung xin hủy bản án sơ thẩm, vì có nhiều tỉnh tiết quan trọng mà bị đơn chưa trình bày trong đơn kháng cáo như :
Bản án sơ thẩm thiếu sót trong việc xác minh thực tế, bỏ qua tình tiết khách quan vụ án.
Ranh hiện trạng là hàng rào dâm bụt mà 2 bên sử dụng có từ năm 1987, khi bà R1 là bà nội của bị đơn chuyển nhượng phần đất cho ông Thái Văn H, hàng rào này là ranh giới đất của ông H và bà R1. Ông H được cấp GCN số 1868 QSD đất ngày 04/07/1994. Sau này bị đơn được hưởng thừa kế của bà R1 năm 2004 được cấp GCN số 5455 QSDĐ /QĐUBTX ngày 01/12/2004, ông H và bị đơn tiếp tục chấp nhận ranh giới dâm bụt đó. Đến năm 2015, bà T1 (bị đơn) được cấp đổi Giấy chứng nhận số ngày CB 763047 ngày 12/10/2015 và ông H được cấp đổi Giấy chứng nhận số BT 278687 ngày 11/6/2015, hàng rào dâm bụt giữa hai thửa đất vẫn giữ nguyên như cũ. Sau đó 2016, bà T (nguyên đơn) nhận chuyển nhượng đất từ ông Thái Văn H cũng chấp nhận hàng rào dâm bụt đó là ranh giới thửa đất của hai bên. Như vậy cho thấy, căn cứ theo hàng rào dâm bụt, bị đơn đã sử dụng phần đất tranh chấp đó từ năm 1987, ổn định và không có tranh chấp với các chủ đất liền kề là 34 năm ( bút lục hồ sơ ở Tòa thể hiện việc này), cho đến ngày 05/03/2021 nguyên đơn khởi kiện bị đơn, tranh chấp 0,4m² và khởi kiện bổ sung 3 đoạn với diện tích đất tranh chấp là 72,59m², trong khi nguyên đơn chưa sử dụng phần đất tranh chấp ngày nào, chính bị đơn mới là người sử dụng 34 năm liền đến khi nguyên đơn khởi kiện. Điều này đã chứng minh bị đơn là người chiếm hữu ngay tình, liên tục và công khai.
Qua trình bày trên, theo Luật đất đai, bị đơn có thể lập hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận xem xét và công nhận phần đất tranh chấp đã sử dụng hơn 30 năm, do chiếm hữu ngay tình, liên tục và công khai chứ bị đơn không là người có hành vi lấn chiếm đất.
Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn phá dỡ toàn bỏ hàng rào mới do hai bên cùng làm. Điều này không hợp lý, vì không đo vẽ lại làm sao biết ranh giới hàng rào sai, đúng như thế nào mà phá dỡ, nhất là khi hàng rào mới có điều chỉnh lại những khiếm khuyết theo biên bản xem xét, thẩm định có ghi, như đã trình bày phần trên. Nguyên đơn phải chịu trách nhiệm tháo dỡ hàng rào này theo quy định pháp luật (nếu có) và hoàn lại cho bị đơn tiền đã hùn nhau xây dựng vì nguyên đơn khởi xướng xây dựng và tranh chấp với chính công trình mà mình xây dựng. Qua nội dung trình trên kháng cáo của bị đơn là có cơ sở vì:
Về hình thức: Bản án sơ thẩm vi phạm tố tụng khi không đưa ông Trần Hữu T4 vào tham gia tố tụng với tư cách nhân chứng và Lê Hồng M tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử không căn cứ theo thực trạng khách quan, dựa vào chứng cứ không còn tồn tại, bỏ qua nhiều tỉnh tiết quan trọng liên quan đến vụ án, nhận định không đầy đủ theo cơ sở pháp luật để đưa ra quyết định chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo đơn khởi kiện, làm thiệt hại quyền lợi chính đáng của bị đơn là không thể chấp nhận được. Do đó: Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 81/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai để đưa về Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Phùng Thị Hồng T1 làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung kháng cáo của bà Phùng Thị Hồng T1 xét thấy: Ngày 11/10/2024 bị đơn bà T1 làm đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký – Chi nhánh L2 cung cấp, nguồn gốc thửa đất số 09, tờ bản đồ 41 xã H của nguyên đơn trước đây là thửa 54, tờ bản đồ 14, diện tích 5650 m² do ông Thái Văn H và bà Nguyễn Hồng H1 sử dụng, được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: C617959 ngày 04/7/1994. Nay thuộc thửa 09, tờ bản đồ 41, diện tích 4059,3 m² trên bản đồ địa chính mới đo đạc năm 2013. Diện tích giữa thửa cũ và mới chênh lệch giảm 1.590,7m² do đo đạc lại bản đồ địa chính. Thủ tục cấp đổi là đúng theo quy định pháp luật.
Ông H, bà H1 được Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 278687 ngày 11/6/2015, diện tích 4059,3 m². Ông H và bà H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho bà Lê Thị Lệ T theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã H chứng thực ngày 10/5/2016. Bà T được Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 155708 ngày 01/06/2016.
Nguồn gốc của thửa đất số 07, tờ bản đồ số 41 (thửa cũ là thửa 55, tờ bản đồ số 14) là do bà Phùng Thị Hồng T1 nhận thừa kế của bà Phùng Thị R (bà nội của bà T1, mất năm 1996). Vợ chồng bà T1, ông C đã quản lý, sử dụng và sinh sống trên diện tích đất này từ khi bà R đang còn sống. Từ năm 1987, bà R có chuyển nhượng một phần diện tích đất của bà cho bà Phạm Thị C2. Ông Thái Văn H, sinh năm 1962 là con của bà Phạm Thị C2 cũng sống trên phần đất bà C2 nhận chuyển nhượng từ bà R. Ông Nguyễn Văn C và bà Phùng Thị Hồng T1 sử dụng, được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AA 116941 ngày 01/12/2004. Nay thuộc thửa 07, tờ bản đồ 41, diện tích 6817,9 m² trên bản đồ địa chính mới đo đạc năm 2013. Diện tích giữa thửa cũ và mới chênh lệch giảm 2.132,1m² do đo đạc lại bản đồ địa chính. Thủ tục cấp đổi là đúng theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết, lời khai 02 bên thể hiện từ khi bắt đầu quản lý sử dụng đất đến nay, các bên chưa từng đo đạc, kiểm tra, xác định ranh mốc phần đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cụ thể, chính xác tại vị trí nào. Tại biên bản xem xét tại chỗ ngày 31/12/2021 thể hiện và tại phiên tòa, bà T1 cũng thừa nhận hàng rào dâm bụt không liền mạch, có nhiều đoạn bỏ trống nên việc ông C, bà T1 xác định ranh giới giữa hai thửa đất dựa theo hàng rào dâm bụt là không phù hợp với thực tế. Ngoài ra, phía bị đơn không có chứng cứ nào để chứng minh gia đình bà với gia đình ông H (chủ đất cũ của nguyên đơn) và giữa bị đơn với nguyên đơn có sự thoả thuận, thống nhất chọn hàng cây dâm bụt làm ranh giới đất giữa hai nhà. Vì vậy, việc bị đơn tự cho rằng hàng cây dâm bụt là phần ranh đất là ý kiến bị đơn, không có sự thoả thuận và không thông qua cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào ranh giới đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho các bên để giải quyết tranh chấp ranh giới đất, cụ thể Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 4159/2022 ngày 09/5/2022 thể hiện hiện trạng sử dụng đất của ông C, bà T1 có lấn sang đất của bà T 72,59 m²; Gồm 03 đoạn giáp ranh theo các mốc (3,30,29,28,2,3) = 0,69 m²; (31, 61,62,63,39,38,37,36,35,34,33,32,31) = 22,5 m²; (39, 19,40,39) = 49,4 m² nên nguyên đơn bà T yêu cầu bà T1 và ông C trả lại diện tích đất nêu trên là phù hợp.
Tuy nhiên Bản án sơ thẩm tuyên “Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Lệ T về việc bà Lê Thị Lệ T cùng có nghĩa vụ với bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C trong việc tháo dỡ toàn bộ tài sản trên phần đất tranh chấp diện tích 72,59 m² gồm hàng rào lưới B40, cột sắt, cửa sắt lưới B40, nền bê tông và di dời đến vị trí mới” là chưa phù hợp vì trong trường hợp ông C, bà T1 không tự nguyện tháo dỡ thì gây khó khăn trong việc thi hành án. Vì vậy, cần sửa cách tuyên: “Buộc bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C phải tháo dỡ hàng rào lưới B40, cột sắt, cửa sắt lưới B40, nền bê tông nằm trên phần đất tranh chấp diện tích 72,59 m². Ghi nhận sự tự nguyện nguyên đơn bà Lê Thị Lệ T cùng với bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C trong việc tháo dỡ hàng rào lưới B40, cột sắt, cửa sắt lưới B40, nền bê tông trên phần đất tranh chấp nêu trên”.
- Tại phiên toà phúc thẩm, phía nguyên đơn đồng ý tự nguyện giao trả lại cho bị đơn diện tích 0,87 m² gồm các mốc (29,30,31,60,29) thuộc một phần thửa 07, tờ bản đồ 41 là phần đất được xác định nguyên đơn có lấn sang đất của bị đơn, để không phải tranh chấp sau này. Mặc dù ở cấp sơ thẩm, bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với phần đất này nhưng đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên ghi nhận.
- Về chi phí tố tụng: Về chi phí tố tụng: Bà T1, ông C có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà T số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 8.000.000đ và chi phí định giá tài sản là 1.000.000đ. Tổng cộng: 9.000.000₫ (Chín triệu đồng).
- Về án phí: Giữa nguyên đơn và bị đơn tranh chấp quyền sử dụng đất, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch. Cấp sơ thẩm tính án phí bị đơn chịu án phí trên giá trị tài sản tranh chấp là chưa phù hợp. Vì vậy, cần phải sửa về án phí bà T1, ông C phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất là 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất.
Bà T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho bà Lê Thị Lệ T 600.000đ tiền tạm ứng án phí do bà T nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo biên lai thu số 0008387 ngày 05/3/2021 và số 0005564 ngày 07/8/2024.
- Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm về cơ bản phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.
- Quan điểm của Luật sư Trịnh Thị Kim N bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Phùng Thị Hồng T1 không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xửw nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phùng Thị Hồng T1. Sửa bản án sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai về cách tuyên và phần án phí do lỗi chủ quan.
Căn cứ Điều 158, Điều 175, Điều 176, Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 166, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai 2013; khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Lệ T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” đối với bị đơn bà Phùng Thị Hồng T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C.
- Buộc bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C phải trả lại cho bà Lê Thị Lệ T quyền sử dụng đất diện tích đất 72,59 m² thuộc một phần thửa đất số 09, tờ bản đồ số 41 tại xã H, thành phố L (Gồm 03 đoạn giáp ranh theo các mốc (3,30,29,28,2,3) = 0,69 m²; (31,61,62,63,39,38,37,36, 35,34,33,32,31) = 22,5 m² ; (39,19,40,39) = 49,4 m² ) theo Bản trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 4159/2022 ngày 09/5/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 phát hành.
- Buộc bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C phải tháo dỡ hàng rào lưới B40, cột sắt, cửa sắt lưới B40, nền bê tông nằm trên phần đất tranh chấp diện tích 72,59 m². Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Lệ T cùng với bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C trong việc tháo dỡ hàng rào lưới B40, cột sắt, cửa sắt lưới B40, nền bê tông trên phần đất tranh chấp nêu trên.
- Ghi nhận sự tự nguyện bà Lê Thị Lệ T trả lại cho bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C diện tích đất 0,87 m² thuộc một phần thửa 07, tờ bản đồ 41 tại xã H, thành phố L (gồm các mốc 29,30,31,60,29) theo Bản trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 4159/2022 ngày 09/5/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 phát hành.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền liên hệ cấp cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Phùng Thị Hồng T1, ông Nguyễn Văn C phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất là 300.000 đồng và án phí yêu cầu buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005736 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Bà T1, ông C còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Hoàn trả cho bà Lê Thị Lệ T 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008387 ngày 05/3/2021 và số 0005564 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về chi phí tố tụng: Bà Phùng Thị Hồng T1 và ông Nguyễn Văn C có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Lệ T số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 8.000.000đ và chi phí định giá tài sản là 1.000.000đ. Tổng cộng: 9.000.000₫ (Chín triệu đồng).
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Liên |
Bản án số 99/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Số bản án: 99/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
