|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2025/HS-ST Ngày: 24-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Viết Sáu, ông Nguyễn Văn Đô
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thùy Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 339/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, Thông báo số 114/2025/TB-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, Thông báo số 125/2025/TB-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Tầm D, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2005 tại Bình Thuận
Nơi cư trú: ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Kiều D1; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân:
- - Ngày 15/5/2023, Chủ tịch UBND phường G, thành phố C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, tại Quyết định số 111.
- - Ngày 16/8/2023, Công an huyện T, tỉnh Cà Mau xử phạt vi phạm hành chính số tiền 10.500.000 đồng về hành vi “Mang theo vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác” và hành vi “Cố ý gây thương tích”, tại Quyết định số 77.
- - Ngày 25/7/2024, TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 26.
Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam K – Cục C – Bộ C1 và được trích xuất về Phân trại tạm giam khu vực P – Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 2002 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 05/3/2023, Nguyễn Tầm D rủ ông Nguyễn Thanh H đi uống cà phê tại khu phố F, phường P, thành phố P thì Hợp đồng ý. D và ông H uống cà phê khoảng được 15 phút thì D nói với ông H cho D mượn xe mô tô đi gặp bạn lấy tiền thì ông Hợp đồng Ý và đưa xe mô tô biển số 86L1- 4720 cùng chìa khóa xe cho D.
Sau khi nhận được xe, D điều khiển xe mô tô biển số 86L1-4720 đến xã T, thành phố P gặp tìm gặp bạn để lấy tiền nhưng không gặp, đồng thời D nghĩ ông H không biết nhà của D ở đâu nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 86L1- 4720 nên D điều khiển xe mô tô biển số 86L1- 4720 chạy vào Thành phố Hồ Chí Minh bán cho 01 người thanh niên (chưa rõ nhân thân) với giá 3.500.000 đồng.
Ông Nguyễn Thanh H ngồi uống cà phê và đợi D về trả xe, nhưng không thấy D mang xe đến trả, ông H gọi điện cho D nhưng không gọi điện được nên ông H nhờ người chở ông H về nhà. Mấy ngày sau, ông H liên tục gọi điện cho D và đi tìm D nhưng không thấy nên H đến Công an phường P trình báo.
Vật chứng vụ án: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86L1- 4720, số máy 5C63051754, số khung RLCS5C6308Y051754 không thu hồi được.
Tại kết luận định giá tài sản số 94 ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86L1-4720, số máy 5C63051754, số khung RLCS5C6308Y051754, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, trị giá 5.000.000 đồng.
Về dân sự: Ông Nguyễn Thanh H yêu cầu Nguyễn Tầm D bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho ông H. Du chưa bồi thường. Tại phiên tòa, bị cáo D tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho ông H 5.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 335/CT-VKSPT-HS ngày 30 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Nguyễn Tầm D về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tầm D về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với mức án từ 05 (năm) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 05/03/2023, tại khu phố F, phường P, thành phố P. Lợi dụng lòng tin và sự quen biết với ông Nguyễn Thanh H, Nguyễn Tầm D sau khi mượn được xe mô tô biển số 86L1-4720, trị giá 5.000.000 đồng của H đã mang vào Thành phố Hồ Chí Minh bán cho 01 người thanh niên (chưa rõ nhân thân) lấy số tiền 3.500.000 đồng tiêu xài thì bị phát hiện.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Tầm D về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện lao động để tạo ra vật chất nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, do đó bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo trước đây đã hai lần bị xử lý hành chính, nhưng không rèn luyện, tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn tác động xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Theo Giấy khai sinh thể hiện ngày, tháng, năm sinh của bị cáo là 11/01/2005, tuy nhiên lại được đăng ký trễ hạn vào ngày 22/3/2012. Theo Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 45/GĐĐT-TTPY ngày 13/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh C kết luận: “Qua quá trình khám giám định, khám chuyên khoa Răng Hàm M, kết quả cận lâm sàng xác định ông Nguyễn Tầm D có độ tuổi từ 18 năm 06 tháng đến 19 năm 00 tháng (tại thời điểm giám định, ngày 29 tháng 11 năm 2023)”. Như vậy, tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (05/03/2023), bị cáo có độ tuổi khoảng từ 17 tuổi 10 tháng đến 18 tuổi 04 tháng. Nhằm đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử xác định tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng Chương XII của Bộ luật Hình sự và tinh thần của Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên để xử lý.
Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hợp lý.
[6] Về dân sự:
Bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 101, Chương XII Bộ luật Hình sự; Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tầm D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tầm D 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo về việc bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Buộc Nguyễn Tầm D phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3.Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Tầm D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/3/2025). Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên |
5
Bản án số 99/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 99/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
