Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 99/2025/HSST

Ngày 05/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh;
  • Bà Vương Thị Khánh Loan;
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lâm Thị Thảo;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia
  • phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, vụ án hình sự thụ lý số 79/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 và Thông báo dời thời gian xét xử số 153/2025/TB-TA ngày 25 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Châu Gia K (Tên gọi khác: không), sinh năm 2004, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 và bà Châu Thị Thúy T, sinh năm 1983; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/11/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 2520/LTG-ĐTTH ngày 05/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực B - Có mặt.

❖ Bị hại:

  1. Bà Trần Thị S, sinh năm 1962 - vắng mặt;
  2. Địa chỉ: khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

  3. Bà Trần Thị N, sinh năm 1970 - vắng mặt;
  4. Địa chỉ: 2, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

❖ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Ngô Thị Thu T1, sinh năm 1985 - vắng mặt;
  2. Địa chỉ: H, TL G, tổ E, khu phố I, phường T, thành phố B, Đồng Nai;

  3. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1976;
  4. Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền trả nợ, trong khoảng thời gian từ ngày 19/11/2024 đến ngày 24/11/2024, Nguyễn Châu Gia K đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố B cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ 39 phút ngày 19/11/2024, K điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Dream biển số 53P2-0900 đi từ nhà (thuộc xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đi đến khu vực thuộc khu phố I, phường T, thành phố B tìm người dân sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt. Khi đến trước phòng trọ số 1 thuộc tổ I, khu phố I, phường T của bà Trần Thị S (sinh năm 1962, thường trú tại khu phố A, phường H, thành phố B) thuê ở, K thấy bà S đang nằm trên ghế tựa trong phòng trọ và quay mặt vào trong, trên cổ bà S có đeo 01 sợi dây chuyền bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 3,04 chỉ, có gắn mặt thánh giá bằng vàng loại 14K, trọng lượng 08 phân 32 ly, K liền dựng xe mô tô bên ngoài rồi đi bộ lại gần bà S dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền trên cổ bà S và nhanh chóng chạy ra xe điều khiển tẩu thoát. Sau đó, K mang sợi dây chuyền trên đến tiệm vàng “Kim Thu Thảo” tại địa chỉ thuộc ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai do chị Ngô Thị Thu T1 (sinh năm 1985, thường trú tại số H, TL767, tổ E, khu phố 1, phường T, thành phố B) làm chủ cầm được số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng), số tiền này K dùng để trả nợ hết. Đối với mặt thánh giá bằng vàng, K đã làm rơi trên đường khi bỏ chạy (không xác định được địa điểm làm rơi).

Vụ thứ hai: Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 24/11/2024, K tiếp tục điều khiển xe môtô biển số 53P2-0900 đi đến khu vực thuộc khu phố F, phường T, thành phố B tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi K đang điều khiển xe trong đường hẻm nội bộ thì thấy bà Trần Thị N (sinh năm 1970, thường trú tại số B, khu phố F, phường T, thành phố B) đang đi bộ ngược chiều với hướng đi của K, trên cổ bà N có đeo 01 sợi dây chuyền bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 3,49 chỉ, K liền điều khiển xe quay lại chạy áp sát phía bên trái người bà N rồi dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền trên của bà N và nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát. Sau đó, K tiếp tục mang sợi dây chuyền trên đến tiệm vàng “Kim Thu Thảo” của chị T1 bán được số tiền 13.000.000₫ (Mười ba triệu đồng), số tiền này K dùng để trả nợ hết.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/11/2024, qua kiểm tra truy xét, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện K đang điều khiển xe mô tô biển số 53P2-0900 tại ấp A, xã B, huyện T nên đã bắt giữ đưa K về trụ sở làm việc. Tại đây, K khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên nên bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố, điều tra xử lý.

❖ Vật chứng vụ án:

  • - 01 sợi dây chuyền bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 3,04 chỉ do chị Ngô Thị Thu T1 giao nộp, là tài sản của bà Trần Thị S bị chiếm đoạt nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho bà S.
  • - 01 mặt thánh giá bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 08 phân 32 ly của bà Trần Thị S, sau khi cướp giật được của bà S, K đã làm rơi trên đường bỏ chạy (không xác định được địa điểm) nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
  • - 01 USB hiệu Kioxia (16GB) do bà Trần Thị S giao nộp, bên trong có lưu trữ file hình ảnh thu giữ được tại khu vực hiện trường vụ án. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
  • - 01 sợi dây chuyền bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 3,49 chỉ, là tài sản của bà Trần Thị Ngọc . Sau khi chiếm đoạt của bà N, bị cáo K đã bán cho tiệm vàng “Kim Thu Thảo” của bà Ngô Thị Thu T1, sau đó bà T1 đã đưa vào nấu lại cùng các loại vàng khác nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 53P2-0900, là tài sản của ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1976, thường trú tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, là cha ruột của K), ông C không biết việc K lấy xe mô tô đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho ông C;
  • - 01 áo khoác màu đen có ghi dòng chữ CENTER STINGER ở phía trước và 01 nón bảo hiểm màu đen, là tài sản của K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho K.
  • - 01 USB màu cam do chị Ngô Thị Thu T1 giao nộp, bên trong lưu trữ file hình ảnh thu giữ được tại khu vực tiệm vàng “Kim Thu T2”. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

❖ Tại bản Kết luận định giá tài sản số 417/KL-HĐĐGTS ngày 16/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: “01 sợi dây chuyền bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 3,04 chỉ và 01 mặt thánh giá bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 08 phân 32 ly, tổng trị giá 18.744.352đ (Mười tám triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm năm mươi hai đồng)”.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 417/KL-HĐĐGTS ngày 16/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 sợi dây chuyền vàng, loại 14K, trọng lượng 3,49 chỉ, trị giá 17.572.499₫ (Mười bảy triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng)”.

❖ Về trách nhiệm dân sự:

  • - Quá trình điều tra, bị hại bà Trần Thị S đã nhận lại tài sản và đã được gia đình bị cáo K bồi thường số tiền 4.168.000đ (Bốn triệu một trăm sáu mươi tám nghìn đồng) nên không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho K;
  • - Quá trình điều tra, bị hại bà Trần Thị N đã được gia đình bị cáo K bồi thường số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) nên không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho K;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị Thu T1 đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

❖ Tại Bản Cáo trạng số 120/CT-VKSBH ngày 22 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Châu Gia K về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:

❖ Tình tiết giảm nhẹ:

  • - Người phạm tội đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự);
  • - Người phạm tội đã được các bị hại trong vụ án làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt (xem xét áp dụng giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự)

❖ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Nguyễn Châu Gia K mức án từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù giam.

❖ Bị cáo Nguyễn Châu Gia K không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

❖ Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi và quyết định tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố là thống nhất, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Để có tiền trả nợ, trong khoảng thời gian từ ngày 19/11/2024 đến ngày 24/11/2024, Nguyễn Châu Gia K đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố B, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ 39 phút ngày 19/11/2024, tại khu vực trước nhà trọ thuộc tổ I, khu phố I, phường T, K đã có hành vi cướp giật 01 sợi dây chuyền bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 3,04 chỉ và 01 mặt thánh giá bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 08 phân 32 ly, tổng trị giá 18.744.352đ (Mười tám triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm năm mươi hai đồng) của bà Trần Thị S.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 24/11/2024, tại đoạn đường hẻm nội bộ thuộc khu phố F, phường T, K tiếp tục có hành vi cướp giật 01 sợi dây chuyền bằng vàng, loại 14K, trọng lượng 3,49 chỉ, trị giá 17.572.499₫ (Mười bảy triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng) của bà Trần Thị N thì bị bắt khẩn cấp, khởi tố điều tra xử lý.

Tổng giá trị tài sản bị can chiếm đoạt được là 36.316.851₫ (Ba mươi sáu triệu ba trăm mười sáu nghìn tám trăm năm mươi mốt đồng).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Châu Gia K về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; các bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Gia đình bị cáo có công với cách mạng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần xử phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị hại bà Trần Thị S và Trần Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Ngô Thị Thu T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với các tài sản Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho chủ sở hữu là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - 01 USB hiệu Kioxia (16GB) do bà Trần Thị S giao nộp, bên trong có lưu trữ file hình ảnh thu giữ được tại khu vực hiện trường vụ án. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
  • - 01 USB màu cam do chị Ngô Thị Thu T1 giao nộp, bên trong lưu trữ file hình ảnh thu giữ được tại khu vực tiệm vàng “Kim Thu T2”. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Châu Gia K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Châu Gia K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.
  3. 3. Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với các tài sản Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho chủ sở hữu là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • - 01 USB hiệu Kioxia (16GB) do bà Trần Thị S giao nộp, bên trong có lưu trữ file hình ảnh thu giữ được tại khu vực hiện trường vụ án. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
    • - 01 USB màu cam do chị Ngô Thị Thu T1 giao nộp, bên trong lưu trữ file hình ảnh thu giữ được tại khu vực tiệm vàng “Kim Thu T2”. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
  4. 4. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Bị hại bà Trần Thị S và Trần Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Ngô Thị Thu T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét
  5. 5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai - Phân trại tạm giam Khu vực Biên Hòa;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 99/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 03 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger