|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2025/HS-ST Ngày: 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Đình Túy
2. Bà Nguyễn Thị Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa
- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 115/2025/HS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn M
- Sinh ngày: 18/12/2006; Nơi cư trú: Khu phố V, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh HóaSố thẻ căn cước công dân: 0382060055113, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Chưa; Tạm giữ: 06/12/2024; tạm giam: 12/12/2024, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố TBị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn M: Bà Lương Thanh V năm: 1989; Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T1 (có mặt)
- Bị hại: Chị Lê Hà P ngày: 17/11/2006; Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Quách Văn H1sinh năm 2005; Địa chỉ: Thôn Q, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Trần Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng đầu tháng 11/2024, Trần Văn M1 biết với Lê Hà P1 nhân viên quán karaoke trên địa bàn thành phố TKhoảng 10 giờ sáng ngày 25/11/2024, Pđến chỗ ở của M2 số G D, phường Q, thành phố T và ở lại đây. Đến 08 giờ sáng ngày 26/11/2024, Công an thành phố Ttiến hành kiểm tra hành chính chỗ ở của M3 hiện Mvà một số đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đưa về trụ sở Công an thành phố làm việc. Do hành vi của M4 vi phạm pháp luật hình sự; Pkhông vi phạm nên được cho về, một số đối tượng khác bị xử lý hình sự về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Sau khi được cho về, M5 lý do Plà người báo tin cho Công an đến bắt nên liên tục đe dọa, ép P2 đưa số tiền 20.000.000 đồng, bằng cách chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Tisố [...] mang tên Quách Văn H1(do Mlà người quản lý sử dụng). Ngày 02/12/2024 Msử dụng tài khoản facebook của mình mang tên "L nhắn tin messeger vào tài khoản của P"Lê Thu P1những nội dung đe dọa ép Plphải chuyển tiền. Ban đầu P1 không đồng ý nên M1tiếp tục nhắn tin đe dọa nếu không đưa đủ tiền sẽ làm hại đến bố mẹ và em trai của P1đồng thời gửi hình ảnh khẩu súng và 03 băng đạn qua messeger để đe dọa P1Do lo sợ, ngày 06/12/2024 P1đến ngân hàng chuyển số tiền 1.600.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T1số [...] cho M6 và xin thời gian để trả số tiền còn lại. Sau đó M1tiếp tục gọi điện, nhắn tin đe dọa chị P1phải chuyển đủ số tiền còn thiếu nên chị Plđã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Ngày 06/12/2024 Trần Văn M7 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T khai nhận hành vi phạm tội.
Về vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen gắn sim số 0867.850.012, số IMEI: 355838084620974 đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết quả điều tra đã xác định. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đầy đủ lời khai, bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Cáo trạng số 50/CT- VKS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của BLHS.
Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; 91; 101 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn M8 15 đến 18 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo. Về phần dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức hạn chế, đề nghị xử mức án 15 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung sối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân khi phạm tội và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Các căn cứ là tình tiết định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, báo cáo và lời khai của bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian đầu tháng 12/2024, Trần Văn M7 có hành vi đe dọa dùng vũ lực làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của bố mẹ và em trai của Lê Hà P3 uy hiếp tinh thần, nhằm mục đích chiếm đoạt của Psố tiền 20.000.000đ. Ngày 06/12/2024 do lo sợ nên P4 chuyển cho Msố tiền 1.600.000₫ vào tài khoản Ngân hàng T2số [...] mang tên Quách Văn Hido Mquản lý. Sau đó Mtiếp tục nhắn tin, gọi điện đe dọa nên chị P4 báo cáo Công an.
Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn M đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của BLHS, như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
Đối với việc Trần Văn M9 dụng tài khoản Ngân hàng T2 số [...] của anh Quách Văn H2 yêu cầu P chuyển tiền, quá trình điều tra xác định do M chưa đủ tuổi để mở, đăng ký tài khoản ngân hàng nên M11 nhờ anh H1 đăng ký giúp sau đó đưa cho Msử dụng. Toàn bộ quá trình mạnh thực hiện hành vi phạm tội thì H1không biết và không được hưởng lợi từ số tiền chị P5 cho M12 không có cơ sở để xử lý anh H1
[3]. Tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo đã dùng mạng xã hội để gọi điện nhắn tin đe dọa sử dụng vũ lực đối với người thân của bị hại nhằm chiếm đoạt số tiền 20.000.000đ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự xã hội nói chung mà còn xâm phạm đến tài sản của người khác nói riêng nên cần được xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan pháp luật bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại đã nhận lại tài sản, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đến Công an thành phố T đầu thú, các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng cho bị cáo quy định tại điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên ( 17 năm 11 tháng 14 ngày tuổi) do đó bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng theo quy định tại Điều 91, 101 BLHS. Tuy nhiên cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly khỏi xã hội một thời gian đối với bị cáo để có điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì cần được công nhận.
[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của M13 công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS để tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
[7]. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; 47; 91; 101 BLHS; Khoản 2, 3 Điều 106; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 06/12/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị hại đã nhận đủ tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung nộp Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen, số IMEI: 355838084620974, điện thoại có gắn kèm sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong). Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 62/2025/THA. ngày 12/02/2024.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Liên |
5
Bản án số 99/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về hình sự: cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 99/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
