TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 03 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Văn Trần
Bà Trần Thị Bích Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn La - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại Nhà Văn hóa Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST - HS ngày tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Mạnh Q, sinh ngày 27/8/1998 tại xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh C (Nguyễn Văn C1) và bà Trương Thị G; có vợ Tống Thị T và 02 con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T “có mặt”.
- Đỗ Văn N, sinh ngày 01/5/1994 tại xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (Không xác định được) và bà Đỗ Thị B; có vợ Lò Thị N1 và 02 con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn N: Bà Trần Bích H. Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V “có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Minh T1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 11/8/2024, Nguyễn Mạnh Q sinh năm 1998 ở thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đến nhà Đỗ Văn N sinh năm 1994 ở thôn C, xã N, huyện S chơi. Đến khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, Q nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên rủ N cùng đi mua ma tuý về sử dụng, N đồng ý. Do không có tiền nên Q nói với N “Hôm nay em chưa có tiền lương, cắm tạm cái điện thoại mấy hôm nữa có lương thì lấy”, ý Q bảo N sẽ cắm điện thoại của Q để lấy tiền mua ma tuý, N đồng ý và lấy chìa khoá xe mô tô BKS: 22B2 - 214.01 đưa cho Q điều khiển. Qua bạn bè xã hội giới thiệu Q biết ở khu vực nhà nghỉ S thuộc xã Đ huyện T hay có người bán ma tuý nên Q điều khiển xe mô tô chở N ngồi sau đi đến khu vực này tìm mua ma tuý. Khi đi đến quán điện thoại của anh Lưu Minh T1 sinh năm 1990 ở thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Q đưa cho N chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh và nói với N “Quán này anh quen anh vào cắm đi, cắm lấy triệu rưỡi”. N cầm điện thoại Q đưa đi vào quán gặp anh T1 cầm cố được 1.500.000 đồng, N cầm tiền đúc vào túi quần phía trước bên phải đi ra nói với Q cắm được 1.500.000 đồng. Sau đó, N ngồi lên sau xe Q điều khiển đi đổ xăng hết 100.000 đồng. Sau khi đổ xăng xong, Q điều khiển xe chở N đến đoạn đường bê tông ngõ đối diện với nhà nghỉ S đường đi lên khu vực đồi B thì gặp một nam thanh niên, Q đoán người này có ma tuý bán nên nói với N “đến mua đi”. N đi đến hỏi và mua được của nam thanh niên này 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được gói ma tuý, N đúc gói ma túy vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi ngồi lên sau xe Q điều khiển đi tìm nơi sử dụng. Khi cả hai đi đến khu vực gần cổng nhà nghỉ S thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng gồm: T2 tại túi quần bên trái của N đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong chứa 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu xanh có chứa chất cục bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu M1; thu tại túi quần bên phải của N số tiền 1.200.000 đồng; tạm giữ của N 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu đen, BKS: 22B2 - 214.01, đã cũ đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, Lưu Minh T1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh để phục vụ điều tra.
Cùng ngày 11/8/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định số 1023 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định đối với mẫu vật ký hiệu M1. Tại Kết luận giám định số 2356/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Chất cục bột của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H1), có khối lượng 0,2963g (không phảy hai chín sáu ba gam, không kể bao bì)
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,2615 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh Q và Đỗ Văn N đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số: 97/CT-VKSTĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Đỗ Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Đỗ Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q từ 01 năm 10 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2024. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N từ 01 năm 10 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy do Phòng kỹ thuật Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định gồm 0,2615 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, Lưu Minh T1 giao nộp, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Mạnh Q nhưng đã chuyển giao quyền quản lý, sử dụng cho anh T1. Bản thân anh T1 không biết việc các bị cáo cầm cố tài sản để lấy tiền đi mua ma tuý sử dụng, gia đình anh T1 có cửa hàng kinh doanh điện thoại, đủ điều kiện cầm cố tài sản nên việc anh T1 quản lý tài sản trên là hợp pháp do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh T1 và chiếc điện thoại nêu trên. Do Q chưa trả tiền cho anh T1 nên cần trả lại tài sản cho người quản lý hợp pháp.
Đối với số tiền 1.200.000đ thu giữ tại túi quần bên phải của Đỗ Văn N, quá trình điều tra xác định là tiền do cầm cố chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Q còn lại sau khi đổ xăng và mua ma tuý, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho Q nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu đen, BKS: 22B2 - 214.01 các bị can sử dụng để đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Mạnh T3, sinh năm 1994, trú tại tổ F, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi ở hiện tại thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (là bạn N), đăng ký đứng tên Đỗ Văn N, sinh năm 1994, trú tại thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Anh N mua mới chiếc xe nêu trên năm 2018, ngày 07/7/2024, anh N đã bán chiếc xe trên cho anh T3 (có giấy tờ viết tay) nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định. Sáng ngày 11/8/2024, N mượn chiếc xe trên của anh T3 để đi mua ma túy nhưng nói với anh T3 là đi công việc, nên anh T3 không biết, không liên quan. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh T3 và chiếc xe trên. Ngày 20/10/2024, Cơ quan Công an huyện T đã trả lại chiếc xe nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp, anh T3 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì nên đề nghị Hội đồng không xem xét.
Các bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo là hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Đỗ Văn N thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:
Chiều ngày 11/8/2024, Nguyễn Mạnh Q rủ Đỗ Văn N đi mua ma tuý về sử dụng, N đồng ý. Khoảng 14 giờ 20 phút, tại khu vực đường bê tông ngõ đối diện với nhà nghỉ S thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Q đứng đợi, N đến gặp hỏi và mua được của nam thanh niên lạ mặt 01 gói ma tuý với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma tuý, khoảng 14 giờ 30 phút cả hai đang đi trên xe mô tô BKS: 22B2 - 214.01, khi đi đến khu vực cổng nhà nghỉ S thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái của N đang mặc 01 gói giấy chứa chất cục bột màu trắng. Kết quả giám định xác định có khối lượng 0,2963gam, loại Heroine, mục đích để Q và N sử dụng cho bản thân.
- Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Đỗ văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...
c) Heroin,... Methamphentamien có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”
- Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Đỗ Năn N2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách về quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, chất gây nghiện, từ việc tàng trữ để sử dụng không những ảnh hưởng tới sức khỏe của các bị cáo mà còn gây ra nhiều tệ nạn cho xã hội. Trước tình hình các tội phạm về ma túy mặc dù đã được đấu tranh, xử lý nghiêm khắc nhưng vẫn không giảm mà có chiều hướng tăng lên, gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Do vậy, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Đối với người nam giới bán ma tuý, do Q và N2 khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, ngoài lời khai của các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh nếu có căn cứ xử lý sau là phù hợp.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy do Phòng kỹ thuật Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định gồm 0,2615 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, Lưu Minh T1 giao nộp, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Mạnh Q nhưng đã cầm cố cho anh T1. Bản thân anh T1 không biết việc các bị cáo cầm cố tài sản để lấy tiền đi mua ma tuý sử dụng. Do Q chưa trả tiền cho anh T1 nên cần trả lại tài sản là điện thoại cho anh T1.
Đối với số tiền 1.200.000đ thu giữ của Đỗ Văn N, quá trình điều tra xác định là tiền do cầm cố chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Q còn lại sau khi đổ xăng và mua ma tuý, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho Q nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu đen, BKS: 22B2 - 214.01 các bị cáo sử dụng để đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Mạnh T3, sinh năm 1994, trú tại tổ F, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi ở hiện tại: Thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sáng ngày 11/8/2024, N mượn chiếc xe trên của anh T3 để đi mua ma túy nhưng nói với anh T3 là đi công việc, nên anh T3 không biết, không liên quan. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh T3 và chiếc xe trên. Ngày 20/10/2024, Cơ quan Công an huyện T đã trả lại chiếc xe nêu trên cho anh T3 nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q phải chịu theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đỗ Văn N thuộc gia đình hộ nghèo, căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Đỗ Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Mạnh Q 01 (Một) năm 09 (C2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/8/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đỗ Văn N 01 (Một) năm 09 (C2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/8/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy do Phòng kỹ thuật Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định mẫu M1 = 0,2615 gam cùng toàn bộ bao gói.
Trả lại cho anh Lưu Minh T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh đã qua sử dụng có số IMEII: 865039065360978; IME12: 865039065360960.
Trả lại cho Nguyễn Mạnh Q số tiền 1.200.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Vật chứng trên theo biên bản giao, nhật vật chứng ngày 21 tháng 11 năm 2024 giữa Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Mạnh Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đỗ Văn N không phải chịu án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt cũng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết công khai.
Nơi nhận
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Thái |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
