Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-PT

Ngày 04 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng và bà Nguyễn Thị Minh Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Duy T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

  1. Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Duy T, sinh ngày 13/8/1988 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn S, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Duy H và bà Nguyễn Thị C (đã chết); vợ Phan Thị H1, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024 đến nay, có mặt.

  2. Bị hại: Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn S, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

    Người đại diện theo pháp luật của anh T1: Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn S, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Duy T là em họ của anh Nguyễn Duy T1 là người khuyết tật nặng, hệ thần kinh, tâm thần, được hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng. Khoảng 08 giờ ngày 26/4/2024, bị cáo đi bộ đến mượn anh T1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn xanh đen, biển số 17B7-307.02, làm phương tiện đi lại, hẹn chiều tối sẽ trả. Anh T1 đồng ý cho mượn và giao xe cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho T. Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên sau đó T nảy sinh ý định mang chiếc xe đi cầm cố. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển chiếc xe đến quán sửa xe gặp anh Nguyễn Văn V là người quen, nói dối là xe của T mới mua lại, chưa sang tên đổi chủ, đặt vấn đề vay anh V 5.000.000 đồng, để lại chiếc xe cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh V để làm tin. Anh V đồng ý cho T vay số tiền trên và không tính lãi. Bị cáo T nhận tiền rồi chi tiêu cá nhân hết. Ngày 27, 28 và 29/4/2024, anh T1 gặp và yêu cầu T trả lại chiếc xe thì T nói dối là đã cho bạn mượn, T đang tìm người này để lấy xe về trả cho anh T1. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, bị cáo T đến quán sửa xe gặp anh V đề nghị vay thêm 4.000.000 đồng, anh V đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T tiếp tục đề nghị vay thêm anh V 4.000.000 đồng, anh V đồng ý. Tổng số tiền bị cáo T vay của anh V là 13.000.000 đồng. Khoảng 08 giờ ngày 30/4/2024, bố đẻ anh T1 là ông Nguyễn Duy P gặp T, yêu cầu T trả xe cho anh T1 thì T hẹn trả xe vào buổi trưa cùng ngày. Do lo sợ việc gia đình anh T1 đến đòi xe và phát hiện sự việc nên bị cáo T đã bỏ trốn bằng xe khách đến thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Sau khi chi tiêu cá nhân hết số tiền đã vay, ngày 03/5/2024, bị cáo T gọi hỏi vay thêm anh V 2.000.000 đồng, anh V không còn tiền thì T nói: “Cái xe đấy của em, có ai mua anh xem được bao nhiêu, thì bảo lại em để em bán”. Anh V đồng ý. Từ ngày 30/4/2024 đến ngày 10/5/2024, anh T1 nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu T trả anh chiếc xe trên nhưng T vẫn nói dối đang tìm người bạn đã mượn xe để đòi, sau đó nói dối là bạn của T đã lấy mất xe. Bị cáo T hỏi anh T1 “Xe mua bao nhiêu tiền, để tao đi vay gửi mày mua xe mới” mục đích để anh T1 không đòi xe nữa nhưng thực tế T đã mất khả năng thanh toán khoản vay trên.

Ngày 10/5/2024, anh T1 đi tìm thì thấy chiếc xe của anh tại quán S và được anh V cho biết việc T để lại xe cùng giấy chứng nhận đăng ký xe từ ngày 26/4/2024 để vay 13.000.000 đồng. Biết mình đã bị T chiếm đoạt chiếc xe nên ngày 15/5/2024, anh T1 đã đến Công an xã A tố giác sự việc. Cùng ngày anh V đã đến cơ quan Công an giao nộp chiếc xe trên cùng giấy chứng nhận.

Bản Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 27/5/2024, xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn xanh đen, biển số 17B7-307.02, giá trị 18.833.333 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 16/9/2024, bị cáo Nguyễn Duy T kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đang phải nuôi hai con nhỏ, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, sau khi xét xử sơ thẩm người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ.

Bị cáo Nguyễn Duy T không tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của của bị cáo Nguyễn Duy T: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Do có mối quan hệ họ hàng với anh Nguyễn Duy T1 là người khuyết tật nặng nên sáng 26/4/2024, bị cáo T đã có hành vi mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, trị giá 18.833.333 đồng của anh T1, sau đó đã mang chiếc xe này làm tín chấp để vay của anh Nguyễn Văn V 13.000.000 để chi tiêu cá nhân, anh T1 và bố anh T1 nhiều lần yêu cầu bị cáo trả xe nhưng bị cáo nói dối và không có ý định trả, không có khả năng trả nợ để chuộc lại xe. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Duy T 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, lạm dụng sự tín nhiệm của bị hại để chiếm đoạt tài sản của bị hại trong khi bị hại là người khuyết tật nặng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không ốm đau, bệnh tật nhưng lười lao động nên đã phát sinh hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo như bản sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T không xuất trình thêm được tài liệu, chứng cứ nào mới để làm căn cứ xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

    1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

    2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 04/12/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án;
  • Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 99/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy T lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger