|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2024/HS-ST. Ngày: 20-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Tài Thủ
Ông Lê Hồng Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Phạm Thị C, sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: Có hai tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép (đã hết thời gian được xem là chưa có tiền sự); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/7/2024 đến ngày 22/10/2024 tại phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Ông Trang Thanh T – sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.Có mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Phạm Thị C – sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim K – sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Bà Lê Thị Trúc L1 – sinh năm 1979. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn về việc mở nhạc hát karaoke nên vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 23/5/2024, Trang Thanh T đi qua nhà Nguyễn Văn L ngụ cùng khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ để nói chuyện thì cả hai xảy ra cự cãi, bà Nguyễn Thị Kim K (là vợ T) can ngăn, kéo T về nhà; khoảng 05 phút T tiếp tục qua nhà L đập cửa và tiếp tục xảy ra cự cải với L, bà K can ngăn về. Do bực tức L lấy một con dao bằng kim loại dài khoảng 37cm đặt trên đầu giường của bà Phạm Thị C (mẹ ruột của L) chém nhiều nhát vào người của T; T chạy vào nhà lấy một cây chĩa tự chế dài khoảng 70cm đâm về hướng của L nhưng không trúng, L cầm dao tiếp tục chém vào người T thì được mọi người can ngăn đưa T đi Bệnh viện điều trị còn L cầm dao đi về nhà.
Sau khi sự việc xảy ra, bà Nguyễn Thị Kim K đến Công an phường trình báo. Khi tiếp nhận tin báo C1 xảy ra sự việc tạm giữ 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 37cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây chĩa tự chế dài khoảng 70cm, đã qua sử dụng.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, Trang Thanh T có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và giám định thương tích. (Bút lục 83)
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 328/KLTTCT-TTPYCT ngày 04/7/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế thành phố C đối với Trang Thanh T, kết luận (Bút lục 63 đến 67):
1. Các kết quả chính:
- Vết thương ở vùng cằm trái, vết thương chếch từ cạnh bên trái cột sống cổ - ngực đến vai trái và vết thương ở vùng nách – cánh tay phải đã được điều trị. Hiện tại các vết thương đã lành sẹo, không ảnh hưởng chức năng;
- Vết sây sát da vùng ngực trái và vùng cánh tay trái, 02 (hai) vết sây sát da ở vùng bụng trái đã được điều trị. Hiện tại các vết sây sát da đã lành, để lại các vết biến đổi sắc tố da, không ảnh hưởng chức năng;
- Vết thương ở mặt sau trong từ 1/3 trên đến 1/3 giữa cẳng tay trái và vết thương ở mặt trước trong 1/3 giữa cẳng tay trái gãy hở 1/3 giữa xương trụ trái, đứt các gân cơ đã được điều trị phẫu thuật cắt lọc vết thương, kết hợp xương trụ trái bằng nẹp vít, khâu gân cơ đứt và dẫn lưu vết thương. Hiện tại 02 (hai) vết thương và vết dẫn lưu đang lành, vị trí gãy xương trụ trái đang can, còn dụng cụ kết hợp xương; hạn chế vận động gấp - duỗi ngón IV, V bàn tay trái mức độ nhẹ.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trang Thanh T tại thời điểm giám định là 20% (Hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Tỷ lệ từng vết thương:
- Vết thương ở vùng cằm trái đã lành sẹo, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 03% (ba phần trăm);
- Vết thương chếch từ cạnh bên trái cột sống cổ - ngực đến vai trái đã lành sẹo, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 02% (hai phần trăm);
- Các vết sây sát da vùng ngực trái, vùng bụng trái và vùng cánh tay trái đã lành, để lại các vết biến đổi sắc tố da, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm);
- Vết thương ở vùng nách – cánh tay phải đã lành sẹo, có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm);
- Vết thương ở mặt sau trong từ 1/3 trên đến 1/3 giữa cẳng tay trái và vết thương ở mặt trước trong 1/3 giữa cẳng tay trái gây gãy hở 1/3 giữa xương trụ trái, đứt các gân cơ, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 14% (mười bốn phần trăm).
2.3 Cơ chế hình thành của từng vết thương
Căn cứ các tài liệu do Cơ quan trưng cầu cung cấp và tính chất của các tổn thương do thương tích gây nên của ông Trang Thanh T tại thời điểm giám định phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 42/KLVGTT-TTPYCT ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế thành phố C kết luận (Bút lục 67 đến 68):
1.Các kết quả chính:
Mẫu vật giám định có dạng vật sắc.
Căn cứ các tài liệu do Cơ quan trưng cầu cung cấp và tính chất của các tổn thương do thương tích gây nên của ông Trang Thanh T tại thời điểm giám định phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên.
Hình dạng của mẫu vật phù hợp với các thương tích trên cơ thể của ông Trang Thanh T.
2. Kết luận:
Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trung cầu giám định gửi đến (con dao) phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định mẫu vật giám định có thể gây ra các thương tích trên cơ thể của ông Trang Thanh T.
Căn cứ Nghị quyết số 02/2003/NĐ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định mẫu vật giám định (con dao) là hung khí nguy hiểm.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn L và bị hại ông Trang Thanh T đều không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định thương tích nêu trên.
Về tang vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang quản lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trang Thanh T yêu cầu Nguyễn Văn L bồi thường với tổng số tiền 58.000.000 đồng, Nguyễn Văn L đồng ý và đã bồi thường cho ông Trang Thanh T số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Tại Cáo trạng số 101/CT-VKSTN ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Để nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.Công nhận giữa bị cáo Nguyễn Văn L và bị hại ông Trang Thanh T thỏa thuận, bị cáo L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe cho ông T với tổng số tiền 58.000.000 đồng, bị cáo L đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng nên bị cáo L còn phải bồi thường cho ông T số tiền còn lại là 28.000.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 37cm
Trong điều tra Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Trang Thanh T 01 (một) cây chĩa tự chế dài khoảng 70cm, đã qua sử dụng là phù hợp nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về chăm lo cho gia đình.
Bị hại không tham gia tranh luận, đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tố tụng:
[2.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng Lê Thị Chúc L2 vắng mặt. Xét, trong điều tra đã thu thập rõ lời khai của những người làm chứng vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai tại Toà. Do đó, việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2.2] Về việc yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích của bị hại: Tại phiên tòa bị cáo rút lại đơn yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích của bị hại T1 Thanh Tròn ngày 12/11/2024 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về hành vi, căn cứ xác định tội phạm: Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai người bị hại, người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng và kết luận giám định, v.v...Như vậy có cơ sở để xác định, vào ngày 23/5/2024 tại nhà bị cáo Nguyễn Văn L thuộc khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, bị cáo L đã có hành vi cầm con dao bằng kim loại dài khoảng 37cm là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát trúng vào vùng cằm trái, cạnh bên trái cột sống cổ - ngực đến vai trái, vùng giữa cẳng tay trái và vùng nách cánh tay phải của bị hại ông Trang Thanh T gây ra thương tích cho ông T với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 20% (Hai mươi phần trăm). Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Sức khỏe, tính mạng con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Xét, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận biết rõ dao là loại hung khí nguy hiểm có khả năng gây sát thương rất cao. Tuy nhiên, chỉ vì xảy ra cự cải về việc bị cáo mở âm thanh lớn làm bị hại không hát karaoke được, đang lúc trong cơ thể có sử dụng rượu không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã cầm dao chém nhiều nhát gây ra thương tích cho bị hại. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đồng thời còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời đời sống xã hội một thời gian tương xứng để đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung.
Trong sự việc này xét cũng có một phần lỗi từ phía bị hại đã chủ động đến nhà bị cáo dùng lời lẽ lớn tiếng và có hành vi mang tính chất khiêu khích bị cáo làm bị cáo tức giận dẫn đến hành động gây thương tích cho bị hại. Do đó, cũng cần nghiêm khắc rút kinh nghiệm đối với bị hại về văn hóa giao tiếp, ứng xử trong đời sống hàng ngày.
[5] Về nhân thân: Bị cáo có tiền sự đã hết thời gian được xem là chưa có tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên toà có thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được việc làm sai trái của bản thân nên đã thoả thuận bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng; quá trình điều tra phía bị hại có đơn bãi nại và tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- * Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại là bị cáo Nguyễn Văn L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe cho người bị hại ông Trang Thanh T với tổng số tiền 58.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại ông T số tiền còn lại là 38.000.000₫ (Ba mươi tám triệu đồng).
Về thời gian và phương thức thanh toán được giải quyết tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 37cm.
- * Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- * Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- * Về quyền, nghĩa vụ và và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ
