Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS - ST

Ngày: 30-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thành

Bà Vũ Thị Linh

Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Th ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trí, ông Hoàng Đắc T - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/ QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Văn Đ, sinh năm 1975 tại huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKT và nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa(học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn Đ1 và con bà Nguyễn Thị H; Có vợ : trần Thị T1, bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số: 58 ngày 20/12/2005 của Tòa án nhân dân huyện Chí Linh (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương, xử Đáng 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày 20/12/2005 về tội “Đánh bạc”; Đáng chấp hành xong bản án, đã xóa án tích. Ngày 21/11/2014, Công an thị xã C (nay là thành phố C) xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ về hành vi đánh bạc, Đ đã chấp hành xong quyết định ngày 21/11/2014.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1972. Địa chỉ: Khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1971. Địa chỉ: Khu dân cư S, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

*Người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Văn T2: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979. Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

*Người đại diện theo uỷ quyền của Chị Nguyễn Thị H1: Anh Vũ Văn N, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu dân cư S P, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Văn Đ có giấy phép lái xe ô tô hạng C số: [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 21/02/2023, có giá trị đến ngày 21/02/2028. Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 15/01/2024, Đ điều khiển xe ô tô tải của mình có biển số 34C-102.25 đi trên đường K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương hướng từ Nhà văn hóa khu dân cư T4 đi lên đường đê sông K; khi còn cách khoảng 04 m đến 05 m thì đến khu vực ngã tư giao cắt giữa đường từ Nhà văn hóa khu dân cư T4 đi lên đường đê sông K với đường từ xóm C đi nghĩa trang K thuộc khu dân cư T, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Đây là đoạn đường thẳng, được trải bê tông bằng phẳng, lòng đường từ Nhà văn hóa khu dân cư T4 đi lên đường đê sông K rộng 6,6 m, lòng đường từ nghĩa trang K dân cư T3 đi xóm C rộng 06 m, lối mở từ ngã tư đi nghĩa trang rộng 09 m, hai bên mép đường của hai đường này có nhà và bờ tường nhà dân, tầm nhìn bị hạn chế (đây là khu vực đường bộ giao nhau cùng mức), khi đó Đ điều khiển xe với tốc độ khoảng 30 km/giờ và đi gần giữa đường, cách mép đường bên phải theo hướng đi khoảng 2,35 m. Đáng quan sát thấy phía trước có xe mô tô biển số 34K3-2508, dung tích xi lanh 110 cm³ của anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1972, trú tại khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương điều khiển (anh T2 không có giấy phép lái xe mô tô), sau xe chở anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1971, trú tại khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương theo hướng từ nghĩa trang K đến ngã tư giao cắt để đi xóm C, thấy vậy Đ phanh xe, đánh lái sang bên trái để tránh thì phần đầu bên phải xe ô tô (vị trí khu vực cụm đèn xe chiếu sáng phía trước bên phải) va vào sườn xe mô tô bên trái làm anh T2, anh L ngã văng về phía trước xuống mặt đường. Xe ô tô tải biển số 34C-102.25 đỗ trên mặt đường theo hướng đi, đầu xe quay hướng đi lên đê sông K, đuôi xe hướng Nhà văn hóa khu dân cư T4, để lại 02 vết phanh dạng phanh kép song song trên mặt đường (Ký hiệu số (1), (2) trên sơ đồ hiện trường) 02 vết đều có hướng từ Nhà văn H2 đi lên đê sông K; vết phanh (1) dài 4,8 m, điểm đầu vết cách mép đường bên phải là 4,25 m, điểm cuối vết trùng với điểm tiếp xúc của bánh xe phía sau bên trái xe ô tô với mặt đường; vết phanh (2) dài 2,6 m, điểm đầu vết cách mép đường bên phải là 2,35 m, điểm cuối vết trùng với điểm tiếp xúc của bánh xe phía sau bên phải xe ô tô với mặt đường. Xe mô tô biển số 34K3-2508 đổ nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe quay hướng xóm C, đuôi xe hướng nghĩa trang khu dân cư Triều, để lại 02 vết cà xước trên mặt đường (Ký hiệu số (3), (4) trên sơ đồ hiện trường) 02 vết đều có hướng từ nhà văn hóa đi lên đê sông K; vết cà xước (3) dài 6,7 m, điểm đầu vết cách mép đường bên phải là 2,78 m, điểm cuối vết trùng với điểm tiếp xúc của tay xách yên bên phải xe mô tô với mặt đường; vết cà xước (4) dài 5,74 m, điểm đầu vết cách mép đường bên phải là 4,1 m, điểm cuối vết trùng với điểm tiếp xúc của để chân phía trước bên phải xe mô tô với mặt đường. Hậu quả anh Nguyễn Văn T2 bị thương tổn hại 89% sức khoẻ, anh Nguyễn Văn L bị tổn hại 25% sức khoẻ; hai phương tiện bị hư hỏng, tổng thiệt hại 5.165.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 103/CT-VKSCL ngày 04 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố Trịnh Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại L và người được ủy quyền của bị hại T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; các khoản 1, 2, 5 Điều 65; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo 13 tháng đến 15 tháng cho hưởng án treo, thời thử thách từ 26 đến 30 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trịnh Văn Đ cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Trả bị cáo Trịnh Văn Đ 01 giấy phép lái xe.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Đ phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, VKSND thành phố Chí Linh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Trịnh Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với hiện trường vụ án và dấu vết trên phương tiện giao thông, phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, hậu quả bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 15/01/2024, tại ngã tư giao cắt giữa đường từ Nhà văn hóa khu dân cư T4 đi lên đường đê sông K với đường từ xóm C đến đường đi nghĩa trang K thuộc khu dân cư T, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Trịnh Văn Đ (Có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển số 34C-102.25 theo hướng từ đường Nhà văn hóa khu dân cư T4 đi lên đường đê sông K, khi đi đến khu vực ngã tư giao cắt trên là khu vực đường bộ giao nhau cùng mức (tầm nhìn bị hạn chế), đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, dẫn đến va chạm giữa phần đầu bên phải xe ô tô với sườn bên trái xe mô tô biển số 34K3-2508, dung tích xi lanh 110 cm³ do anh Nguyễn Văn T2 (Không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển chở anh Nguyễn Văn L hướng từ đường nghĩa trang K đi đến ngã tư. Hậu quả anh Nguyễn Văn T2 bị thương tổn hại 89% sức khoẻ, anh Nguyễn Văn L bị thương tổn hại 25% sức khoẻ; hai phương tiện bị hư hỏng, tổng thiệt hại 5.165.000 đồng.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do Trịnh Văn Đ điều khiển xe ô tô đến ngã tư giai cắt với đường bộ cùng mức, tầm nhìn bị hạn chế đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ (được quy định chi tiết tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ), hậu quả làm 02 người bị thương, tổng tỷ lệ tổn hại 114% sức khỏe, 02 phương tiện bị hư hỏng nhẹ. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 BLHS. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo Trịnh Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 BLHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm an toàn sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, cũng như sức khỏe của anh T2, anh L. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý do cẩu thả. Bị cáo điều khiển xe ô tô đến khu vực đường bộ giao nhau nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không tuân thủ về tốc độ xe chạy dẫn đến làm tổn hại tỷ lệ 114% sức khỏe cho các bị hại và thiệt hại về tài sản là 5.165.000 đồng.

Khi áp dụng hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo hiện không có tiền án tiền sự. Việc gây ra tai nạn lần này là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Hơn nữa, khi sự việc xảy ra, bị cáo đã có thái độ chấp hành pháp luật tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn, hối lỗi với hành vi của mình, tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại nên hậu quả được khắc phục một phần. Bị hại và đại diện gia đình bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị hại là anh Nguyễn Văn T2 không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định vẫn điều khiển xe chở anh L tham gia giao thông sang đường thiếu chú ý quan sát. Do đó, Hội đồng xét xử xác định bị hại có lỗi một phần trong việc để xảy ra tai nạn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội vẫn có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C tại phiên tòa.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không hành nghề lái xe nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã thu giữ và trả lại xe mô tô biển số 34K3-2508 của anh T2 cho gia đình anh T2; trả lại chiếc xe ô tô biển số 34C-102.25 cho vợ chồng Trịnh Văn Đ là phù hợp với điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Do không cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn nhất định nên cần trả lại giấy phép lái xe ô tô hạng C số: [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 21/02/2023, có giá trị đến ngày 21/02/2028 mang tên Trịnh Văn Đ cho bị cáo Đ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình anh T2 đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho 250.000.000đồng cho anh Nguyễn Văn T2 và 10.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn L, người đại diện theo ủy quyền của gia đình anh T2, anh L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo Đáng bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Các khoản 1, 2, 5 Điều 65 của BLHS; khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn Đ phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

    Xử phạt bị cáo 13(mười ba) tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26(hai mươi sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Trịnh Văn Đ cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

    Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

  2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trịnh Văn Đ giấy phép lái xe ô tô hạng C số: [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 21/02/2023, có giá trị đến ngày 21/02/2028 mang tên Trịnh Văn Đ.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Văn Đ phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Chí Linh;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - CQĐT Công an thành phố Chí Linh;
  • - Công an thành phố Chí Linh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THA hình sự - Công an thành phố Chí Linh;
  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện theo pháp luật của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - UBND xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Chu Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS - ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 99/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger