TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 24 - 10 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tùng và bà Hồ Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lệ Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Mai Văn H (tên gọi khác: Không); sinh năm 1997; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Đảng, Đoàn thể: Không; con ông Mai Văn C, sinh năm 1967; con bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 28/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 36/2020/HSST ngày 28/8/2020 đã chấp hành xong bản án ngày 13/8/2021; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 cho đến nay - có mặt.
- Hoàng Văn P (tên gọi khác: Không); sinh năm 1997; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Đảng, Đoàn thể: Không; con ông Hoàng Văn H2 (đã chết); con bà Bùi Thị S, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 43/2014/HSST ngày 27/8/2014 đã chấp hành xong bản án ngày 05/7/2015; Ngày 09/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 85/2018/HSST ngày 09/11/2018 đã chấp hành xong bản án ngày 13/5/2019; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 cho đến nay - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong ngày 27/02/2024, Mai Văn H và Hoàng Văn P đã 02 lần cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, lần thứ nhất tại nhà của ông Mai Văn C (sinh năm 1967, địa chỉ: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An – là bố của Mai Văn H) và lần thứ hai tại kho muối bỏ hoang (địa chỉ: khu vực cánh đồng muối thuộc thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An). Cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 14 giờ ngày 27/02/2024, do Mai Văn H còn cất giấu 01 viên ma túy (hồng phiến) nên đã nhắn tin rủ Hoàng Văn P đến nhà mình để cùng sử dụng thì P đồng ý. Một lúc sau, P đi đến nhà của H tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An rồi lên giường của H nằm sẵn để chờ sử dụng ma túy. Lúc này, H đi ra ngoài sân lấy một vỏ chai nhựa màu trắng, dùng bật lửa châm điếu thuốc lá cháy lên đục một lỗ hình tròn ngang thân chai, rồi mang chai nhựa vào nhà đặt lên giường trước mặt P. Thấy vậy, P lấy một tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng có sẵn ở trên giường cuộn tròn lại làm vòi cắm vào chai nhựa mà H đã đục lỗ sẵn, tiếp tục P lấy một mảnh giấy bạc ở trong bao thuốc lá Thăng L có sẵn trên thành giường của H làm máng để làm công cụ sử dụng ma túy. Sau khi P chuẩn bị xong công cụ sử dụng ma túy thì H đặt trước mặt P 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 01 viên ma túy (hồng phiến) rồi đi ra ngoài cảnh giới cho P sử dụng ma túy. P cầm gói ma túy mở ra, lấy viên ma túy (hồng phiến) bỏ lên mảnh giấy bạc (thường gọi là “máng”) rồi dùng bật lửa đốt cho khói từ viên ma túy (hồng phiến) bốc lên để sử dụng. Lúc này, P hút được khoảng 05 đến 06 hơi ma túy từ trong chai nhựa thì gần hết viên ma túy đó nên P đi ra ngoài cảnh giới cho H vào sử dụng ma túy. H đi vào cầm chai nhựa lên hút được 02 hơi thì hết viên ma túy này.
Lần thứ hai: Sau khi sử dụng hết viên ma túy nêu trên thì P sử dụng tài khoản ngân hàng V số “105872237408” mang tên “Hoang Van Phương” của P chuyển vào tài khoản ngân hàng V1 số “9921475414” mang tên “Mai Van H3” của H số tiền 1.000.000 đồng để H mua ma túy rồi tiếp tục cùng nhau sử dụng. Sau khi nhận được tiền, H cất chai nhựa vào nhà vệ sinh và cất tờ tiền 2.000 đồng cuộn tròn làm vòi vào chiếc ví da, rồi sử dụng số thuê bao “0921.475.414” gọi vào số thuê bao “0966.857.322” của một người đàn ông (H không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy (hồng phiến) thì người này đồng ý. Sau đó, H sử dụng ứng dụng ví điện tử Momo được đăng ký bằng số điện thoại “0921.475.xxx” liên kết với tài khoản ngân hàng V1 số “9921475414" của H chuyển đến ví Momo được đăng ký bằng số điện thoại “0966.857.xxx” liên kết với tài khoản ngân hàng M mang tên “Nhu Sy Binh” của người đàn ông bán ma tuý số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, người đàn ông này để ma tuý tại khu vực cầu B (thuộc xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) rồi nói H đến lấy. Sau đó, Hoàng Văn P sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, Biển kiểm soát 37L2-077.11 chở Mai Văn H đi đến cầu B thì thấy trên lan can cầu có 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, mở ra ở trong có nhiều viên nhỏ màu hồng thì biết đây là ma tuý. Sau đó, P và H cầm số ma tuý trên rồi điều khiển xe mô tô đi về xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An tìm địa điểm để tiếp tục cùng nhau sử dụng ma túy. Khi đi đến thôn Q, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì P dừng xe lại rồi đi vào một quán tạp hóa mua 02 chai nước ngọt và 01 chai nước lọc rồi điều khiển xe mô tô đi đến một kho muối bị bỏ hoang không có ai trông coi (tại khu vực cánh đồng muối thuộc thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An). Lúc này, P đi vào bên trong lấy 01 chai nước nước lọc vừa mới mua rồi đục một lỗ trên thân chai và dùng 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cuộn tròn lại làm vòi gắn vào lỗ trên thân chai, tiếp tục P lấy một mảnh giấy bạc từ bao thuốc lá T3 làm “máng”. Sau khi P chuẩn bị xong công cụ sử dụng ma tuý thì H lấy gói ma túy vừa mới mua được cắn một góc bỏ ra nền nhà rồi đi ra ngoài cảnh giới, P đếm thấy có 09 viên ma túy (hồng phiến) thì lấy ra sử dụng trước, khi sử dụng xong thì P đặt chai nhựa và ma túy xuống nền nhà kho cho H đi vào sử dụng, còn P ra ngoài cảnh giới. Cả hai thay phiên nhau sử dụng hết 06 viên ma túy (hồng phiến) thì H nhìn thấy có người đi qua đường nên nói với P dừng lại không sử dụng ma tuý nữa. Lúc này còn 03 viên ma tuý (hồng phiến) chưa sử dụng thì P nói để P cất giấu và rủ H sau khi ăn cơm tối xong thì sẽ cùng nhau sử dụng tiếp thì H đồng ý. Sau đó, P bỏ 03 viên ma túy (hồng phiến) còn lại vào trong gói giấy màu trắng lúc đầu rồi cất ở trong túi quần bên phải và cả hai ra về. Khi về đến nhà, P chia 03 viên ma túy (hồng phiến) ra 02 gói nilon màu trắng, một gói dựng 02 viên và một gói đựng 01 viên rồi bỏ vào đựng trong một cái lọ bằng nhựa, hình trụ tròn và cất ở trong túi quần phía trước bên phải.
Đến khoảng 19 giờ ngày 27/02/2024, khi P đang ở nhà (tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An) thì tổ công tác Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của P 01 lọ nhựa hình trụ tròn bên trong đựng 02 gói nilon màu trắng: gói thứ nhất có chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng, gói thứ hai có chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy tổng hợp) và 01 điện thoại nhãn hiệu oppo A54 màu xanh.
Đến 22 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mai Văn H, thu giữ trên người của Mai Văn H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C màu đen. Ngoài ra, Mai Văn H tự nguyện giao nộp: 01 chai nhựa màu trắng trên thân chai có đục một lỗ hình tròn tại nhà của H và chỉ dẫn Cơ quan Công an đi đến nhà kho bỏ hoang ở cánh đồng Muối (thuộc thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An) để giao nộp thêm 01 chai nhựa màu trắng trên thân có đục một lỗ hình tròn và cắm một tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cuộn tròn xuyên từ ngoài vào trong thân chai và 01 mảnh giấy màu bạc một mặt bị cháy than hóa màu đen.
Ngày 28/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định đối với số ma túy thu của Hoàng Văn P, xác định:
- - Gói ni lông trong suốt thứ nhất: bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng là 0,15 gam, đã lấy 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,05 gam gửi giám định (kí hiệu M1).
- - Gói ni lông màu trắng thứ hai: bên trong có chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,11 gam, đã lấy 01 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,11 gam gửi giám định (kí hiệu M2).
Kết luận giám định số 287/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 03/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: 02 mẫu viên nén hình tròn màu hồng (Ký hiệu M1, M2) thu giữ của Hoàng Văn P gửi tới giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine; 03 viên nén hình tròn thu giữ của Hoàng Văn P có tổng khối lượng là 0,26 gam.
Kết luận giám định số 301/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 07/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Trên 02 chai nhựa, trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cắm vào chai nhựa cao 18 cm và trên bề mặt mảnh giấy bạc gửi đến giám định đều có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 27/02/2024 của Trạm y tế xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An đối với Hoàng Văn P, Mai Văn H thể hiện: Hoàng Văn P và Mai Văn H đều dương tính với ma tuý (loại Methamphetamine).
Tại phiên tòa các bị cáo Mai Văn H, Hoàng Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cáo trạng số 106/CT-VKS-QL ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Mai Văn H, Hoàng Văn P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của BLHS đối với Mai Văn H.
- Xử phạt Mai Văn H từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 14 tháng đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
- Áp dụng Điều 55 của BLHS: Tổng hợp hình phạt chung của hai tội danh đối với Mai Văn H.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của BLHS đối với Hoàng Văn P.
- Xử phạt Hoàng Văn P từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 16 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
- Áp dụng Điều 55 của BLHS: Tổng hợp hình phạt chung của hai tội danh đối với Hoàng Văn P.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 0,10 gam ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi lấy mẫu giám định và vỏ phong bì đã mở niêm phong, các gói nilon, lọ nhựa ban đầu được đựng trong 01 phong bì thư bưu điện có viền xanh đỏ; 01 chai nhựa màu trắng cao 18 cm, đường kính miệng chai 02 cm; 01 chai nhựa màu trắng cao 20 cm; 01 mảnh giấy bạc kích thước (0,5x3,5) cm, một mặt bị cháy than hóa màu đen, được đóng gói bằng 01 bìa cát tông, dán kín giấy trắng được niêm phong và có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh N.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 9C màu đen thu giữ của Mai Văn H và 01 điện thoại nhãn hiệu oppo A54 màu xanh thu giữ của Hoàng Văn P; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Mai Văn H, Hoàng Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà Mai Văn H, Hoàng Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận: Trong ngày 27/02/2024, Mai Văn H và Hoàng Văn P đã 02 (Hai) lần cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Lần thứ nhất: Vào khoảng 14 giờ ngày 27/02/2024 Mai Văn H và Hoàng Văn P đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau tại nhà ông Mai Văn C (sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An – là bố đẻ của Mai Văn H). Lần thứ hai: Cùng ngày 27/02/2024, sau khi Mai Văn H và Hoàng Văn P sử dụng hết số ma túy tại nhà H thì P chuyển khoản cho H để mua 09 (chín) viên ma túy (hồng phiến) với giá 1.000.000 đồng rồi cùng nhau đến một kho muối bị bỏ hoang (tại khu vực cánh đồng Muối thuộc thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An) rồi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép 06 (sáu) viên ma túy.
Đối với 03 viên ma túy còn lại, Hoàng Văn P cất giấu trong người và hẹn Mai Văn H sau khi ăn tối xong sẽ cùng nhau sử dụng tiếp. Đến 19 giờ cùng ngày, tại nhà của Hoàng Văn P (địa chỉ: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An), tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang P đang tàng trữ 0,26 gam ma túy mục đích để sử dụng.
Hành vi mà Mai Văn H, Hoàng Văn P thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình Tội danh mà đại diện Viện kiểm sát đã quy kết đối với Mai Văn H, Hoàng Văn P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, vụ án có đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng ma túy đối với con người nhưng đã cố ý tổ chức sử dụng trái phép và tàng trữ trái phép chất ma túy; hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Mai Văn H, Hoàng Văn P đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Hoàng Văn P có ông nội (ông Hoàng Khắc T) là liệt sỹ, có bà nội (bà Đàm Thị X) được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo P khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã tự thú và khai nhận về hai hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Mai Văn H nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo bị truy tố nhiều tội danh khác nhau nên cần phân hóa vai trò, vị trí của từng bị cáo để lên một mức án nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội.
Bị cáo Mai Văn H là người đã rủ rê Hoàng Văn P cùng sử dụng ma túy và đã tích cực chuẩn bị dụng cụ, đi mua ma túy để cùng P tổ chức sử dụng. Bị cáo phải chịu trách nhiệm chính về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt cao hơn bị cáo P. Ngày 28/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 36/2020/HSST ngày 28/8/2020 đã chấp hành xong bản án ngày 13/8/2021 trở về địa phương bị cáo không rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật.
Bị cáo Hoàng Văn P là người tích cực chuẩn bị dụng cụ và tiền mua ma túy để cùng H tổ chức sử dụng. Bị cáo biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người nhưng đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo từng hai lần bị xét xử: Ngày 27/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 09/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương bị cáo không rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật.
Cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cảm hóa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Các bị cáo bị áp dụng hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung và cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Đối với bà Bùi Thị S (mẹ đẻ của Hoàng Văn P) là người đã mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát: 37L2-077.11 của chị Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã A, huyện Q, tỉnh Nghệ An) vào ngày 26/02/2024 rồi để tại nhà ở của mình. Ngày 27/02/2024, bà Bùi Thị S và chị Nguyễn Thị T1 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô này đều không biết việc Hoàng Văn P sử dụng chiếc xe máy của chị T1 để đi mua ma túy nên không phải chịu trách nhiệm.
Đối với ông Mai Văn C (là chủ nhà nơi Mai Văn H và Hoàng Văn P cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy lần thứ nhất trong ngày 27/02/2024), quá trình điều tra xác định ông Mai Văn C hoàn toàn không biết việc H và P sử dụng nhà mình để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không phải chịu trách nhiệm.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Mai Văn H: Mai Văn H không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành xác minh thông tin chủ số thuê bao “0966.857.322” và chủ số tài khoản Ngân hàng M số “0966857322” mang tên “Nhu Sy Binh” xác minh được chủ số thuê bao và chủ tài khoản ngân hàng đều không liên quan và không phải là người bán ma túy cho Mai Văn H. Do đó, nội dung này không có căn cứ để tiếp tục xác minh, điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
[3] Về vật chứng:
Đối với 0,10 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau khi trích mẫu giám định và vỏ phong bì đã mở niêm phong, các gói nilon, lọ nhựa ban đầu được đựng trong 01 phong bì thư bưu điện có viền xanh đỏ là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chai nhựa màu trắng cao 18 cm, đường kính miệng chai 02 cm, đường kính đáy 05 cm, trên thân chai cách đáy 04 cm được đục lỗ; 01 chai nhựa màu trắng cao 20 cm, đường kính miệng chai 02 cm, đường kính đáy 05 cm, trên thân chai cách đáy 06 cm được đục một lỗ hình tròn; 01 mảnh giấy bạc kích thước (0,5x3,5) cm, một mặt bị cháy than hóa màu đen, được niêm phong đúng quy định không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 9C màu đen thu giữ của Mai Văn H và 01 điện thoại nhãn hiệu oppo A54 màu xanh thu giữ của Hoàng Văn P là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng là tiền nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[4] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình đối với Mai Văn H.
- Xử phạt Mai Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình: Tổng hợp hình phạt của hai tội danh đối với Mai Văn H là 08 (T2) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 27/02/2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình đối với Hoàng Văn P.
- Xử phạt Hoàng Văn P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt 07 (Bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình: Tổng hợp hình phạt của hai tội danh đối với Hoàng Văn P là 08 (T2) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 27/02/2024.
- - Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,10 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định và vỏ phong bì đã mở niêm phong, các gói nilon, lọ nhựa ban đầu được đựng trong 01 (một) phong bì thư bưu điện có viền xanh đỏ, kích thước (11x18); 01 (Một) chai nhựa màu trắng cao 18 cm, đường kính miệng chai 02 cm, đường kính đáy 05 cm, trên thân chai cách đáy 04 cm được đục lỗ; 01 (Một) chai nhựa màu trắng cao 20 cm, đường kính miệng chai 02 cm, đường kính đáy 05 cm, trên thân chai cách đáy 06 cm được đục một lỗ hình tròn; 01 (Một) mảnh giấy bạc kích thước (0,5x3,5) cm, một mặt bị cháy than hóa màu đen, được niêm phong bằng 01 (Một) bìa cát tông, dán kín giấy trắng, trên có chữ ký của thành phần tham gia và hình dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh N.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 9C màu đen thu giữ của Mai Văn H và 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu oppo A54 màu xanh thu giữ của Hoàng Văn P; 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng.
Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận được lập ngày 18/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Q với Cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc Mai Văn H, Hoàng Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Mạnh |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Mai Văn Hợi và đồng phạm
