Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HSST

Ngày: 22-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thăng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quý Dương và Ông Lê Quang Thế

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 01/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 09/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1980; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn A, xã H, huyện K; tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình Đ1, sinh năm: 1955 và con bà Giang Thị S (Theo bản án số 31/2018/HS-ST ngày 27-6-2018 mẹ bị cáo còn có tên là Giang Thị X), sinh năm: 1957; Vợ: Lê Thị H, sinh năm 1982; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 04 anh em.

Tiền án, tiền sự: không có;

Nhân thân: Ngày 27/6/2018 bị Toà án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý; Ngày 15/10/2019 chấp hành xong hình phạt tù; thi hành án phí hình sự sơ thẩm ngày 31/7/2018.

Bị cáo Nguyễn Đình Đ bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt tại phiên toà)

Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985

Chị Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1985

Đều trú tại: thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 17/6/2024 Nguyễn Đình Đ mang theo số tiền 200.000 đồng đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông lạ mặt đến khu vực xã T, huyện K để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn B, xã T, Đ đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 50 tuổi đứng ở ven đường trông giống người nghiện ma tuý, Đ tiến lại gần và nói: “để em hai trăm” (ý muốn hỏi mua 200.000 đồng tiền ma tuý Heroine), Đ lấy từ trong người ra số tiền 200.000 đồng đã mang theo trước đó đưa cho người đàn ông, người này nhận tiền rồi đưa lại cho Đ 01 gói giấy nhỏ màu trắng, biết bên trong gói này có chứa ma tuý Heroine nên Đ nắm chặt vào lòng bàn tay trái rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Khi vừa đi trên đường T thì Đ bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K phát hiện, Đ đã tự giác giao nộp gói giấy vừa mua được cho lực lượng Công an. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói giấy chứa ma tuý Đáo giao nộp cho vào phong bì niêm phong theo quy định.

Ngày 22/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 359/LKX-KTMT đối với chỗ ở của Nguyễn Đình Đ, tại thôn A, xã H, huyện K. Kết quả: không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Ngày 17/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra Quyết định trưng cầu giám định tại Phòng K Công an tỉnh H giám định ma túy đối với mẫu niêm phong thu của Nguyễn Đình Đ.Tại Kết luận giám định số: 457/KL-KTHS(MT), ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong, có khối lượng là: 0,260g (không phẩy hai sáu không gam), là ma túy, loại Heroine (H).

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chờ xử lý của Công an huyện K 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 457/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,244g Heroine, 01 mảnh giấy gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số: 102/CT-VKSKC ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Nguyễn Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Đ từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 17/6/2024. Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 457/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,244g ma túy, loại heroin, 01 mảnh giấy gói ma tuý, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với chính lời khai, bản cung của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với lời khai người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 17/6/2024, tại đường bê tông thuộc thôn B, xã T, huyện K, Nguyễn Đình Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,260 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy, để thoả mãn cơn nghiện bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,260 gam Heroine mục đích để sử dụng nên VKSND huyện Khoái Châu truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an nên việc áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo do bị cáo không biết rõ đầy đủ họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, truy tìm và xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về nhân thân: Ngày 27/6/2018 bị Toà án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp lao động tự do không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 457/KL-KTHS(MT), bên trong chứa 0, 244ma túy, loại Heroin, 01 mảnh giấy gói ma tuý, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.

Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 457/KL-KTHS(MT), bên trong chứa 0,244g ma túy, loại Heroin, 01 mảnh giấy gói ma tuý, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(Tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 81/QĐ-VKS-KC ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện K với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khoái Châu)

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình Đ phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Thăng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HSST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 99/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Nguyễn Đình Đáo, sinh năm 1980; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn An Cảnh, xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu; tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình Đảo, sinh năm: 1955 và con bà Giang Thị Sinh (Theo bản án số 31/2018/HS-ST ngày 27-6-2018 mẹ bị cáo còn có tên là Giang Thị Xinh), sinh năm: 1957; Vợ: Lê Thị Hồi, sinh năm 1982; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 04 anh em.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger