|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18 -10 - 2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Văn Bé Em
- Ông Nguyễn Quốc Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bảo T, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Số 20/11 đường L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. -
Bị đơn: Ông Đào Quang H, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 20/11 đường L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Lê Thị Bảo T trình bày:
Bà và ông Đào Quang H tự tìm hiểu nhau, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014; sau đó cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/4/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do tính cách không dung hòa, luôn bất đồng quan điểm trong cách sống, ông H thường xuyên nhậu nhẹt say sỉn dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, tình cảm rạn nứt. Từ khoảng tháng 4/2024 bà đã đưa con chung chuyển đi nơi khác sinh sống và vợ chồng ly thân cho đến nay. Nhận thấy không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc nên bà muốn ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà xác nhận vợ chồng chung sống có 01 người con chung tên Đào Gia B, sinh ngày 23/6/2015, hiện do bà là người trực tiếp nuôi dưỡng và con vẫn thường xuyên qua lại gặp mặt ông H. Bà yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Đào Quang H là bị đơn: Không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa án xem xét.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án, xem xét việc thụ lý vụ án, cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng và tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con của bà Lê Thị Bảo T đối với ông Đào Quang H; nguyên đơn bà T phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
Bà Lê Thị Bảo T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với ông Đào Quang H; đây là tranh chấp về ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Đào Quang H là bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Đào Quang H như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; tuy nhiên, ông H không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà T giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặc khác, ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
[2] Nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bảo T và ông Đào Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/4/2019 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Tại phiên toà, bà T xác định nguyên nhân yêu cầu ly hôn là vì giữa bà và ông H không còn tình cảm, đời sống hôn nhân không hạnh phúc; vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 4/2024 đến nay nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm. Như vậy xét thấy giữa hai vợ chồng không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, hôn nhân giữa bà T và ông H không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải để giải quyết mâu thuẫn, tạo điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả do ông H vắng mặt. Điều này cho thấy tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa hôm nay, bà T xác định giữ nguyên ý kiến muốn chấm dứt hôn nhân với ông H, Hội đồng xét xử dựa trên nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông H.
Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông H có 01 người con chung tên Đào Gia B, sinh ngày 23/6/2015; do bà T chăm sóc từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy về phía ông H không có ý kiến gì đối với việc nuôi dưỡng con; bà T xác định có đủ điều kiện chăm sóc tốt cho con về mọi mặt; ngoài ra để cháu B tiếp tục ổn định với sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hiện tại và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu B cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng là đúng với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.
Bà T cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H.
Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
Từ những nhận định trên, trong thảo luận nghị án Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, cũng như ý kiến đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên cần được chấp nhận.
[3] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004581 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Bảo T được ly hôn với ông Đào Quang H.
- Về con chung: Giao cháu Đào Gia B, sinh ngày 23/6/2015 cho bà Lê Thị Bảo T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đào Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà T cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H.
Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Bảo T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004581 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày; đương sự có mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Hồng Thắm |
Bản án số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 99/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho bà Lê Thị Bảo T được ly hôn với ông Đào Quang H
