Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/ HS-ST

Ngày: 08/10/2024

` NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn

Ông Phạm Văn Chữ

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/ HSST ngày 02/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/HSST-QĐ ngày 30/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lý Hoài N, sinh năm 1972. Tên gọi khác: Không.

    - Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Chí; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 3/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Lý Văn N1, sinh năm 1940; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1943 (đều đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2001.

    Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/HSST ngày 17/3/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt Lý Hoài N 04 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ”. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B

  2. Họ và tên: Vũ Đình P, sinh năm 1983. Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 3/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Vũ Đình V, sinh năm 1939 (đã chết); Mẹ đẻ: Hoàng Thị L, sinh năm 1942 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1982; Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2011.

    - Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2024 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B

  3. Họ và tên: Hoàng Thị V1, sinh năm 1987. Tên gọi khác: Không.

    - Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 3/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố đẻ: Hoàng Văn B1, sinh năm 1945 (đã chết); Mẹ đẻ: Chu Thị T1, sinh năm 1947; Bị cáo chưa có chồng, có 01 con sinh năm 2010.

    - Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B

  4. Họ và tên: Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1982. Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố đẻ: không xác định; Mẹ đẻ: Hoàng Thị L1, sinh năm 1965; Chồng: Vũ Đình P, sinh năm 1983; Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2011.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị can bị bắt theo Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2024 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Anh Trần Văn T2 - Sinh năm 1978
  • Địa chỉ: Tổ D, phường T, thánh phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • 2/ Anh Ngô Văn T3 - Sinh năm 1991
  • Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • 3/ Anh Thân Văn L2 - Sinh năm 1975
  • Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Anh Trần Văn T2 - Sinh năm 1978
  • Địa chỉ: Tổ D, phường T, thánh phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • 2/ Anh Ngô Văn T3 - Sinh năm 1991
  • Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • 3/ Anh Thân Văn L2 - Sinh năm 1975
  • Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thị N2, Giàng Thị D, Nguyễn Thành D1 thừa nhận việc tổ chức sử sụng trái phép chất ma tuý của mình là sai, vi phạm pháp luật; Bị cáo Nguyễn Ngọc A thừa nhận việc chứa chấp việc việc sử sụng trái phép chất ma tuý là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo N2 xác định khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (khi xào ke) thì bị cáo D1 không có soi điện thoại hay giúp sức gì cho bị cáo. Bị cáo D2, N2, D có nguyện vọng xin lại điện thoại di động bị thu giữ vì không liên quan đến việc phạm tội; Bị cáo T4 và Ngọc A nhất trí sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại bị thu giữ vì đã liên lạc với nhau việc để thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Hữu N3 trình bày phù hớp với lời trình bày tại Cơ quan điều tra, ông xác định khi bị cáo D1 lấy chiếc xe mô tô của ông chở bị cáo Nguyễn Hoàng T4 đến nhà nghỉ sau đó tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ông không biết, hiện ông đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo B2 Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý"

và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Vũ Đình P Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm b,i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Hoàng Thị V1 Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Thị Hoài T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm b khoản 2 Điều 256 ; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Khoản 2 Điều 51 ; Điều 17, Điều 58 ; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý Hoài N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý và từ..........................đến về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chịu chung mức hình phạt của cả hai tội là.........năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Khoản 2 Điều 51 ; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đình P từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Khoản 2 Điều 51 ; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị V1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  4. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoài T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ + Số tiền 50.400.000đ, trong đó có 400.000₫ thu giữ của Hoàng Thị V1 khi bắt người phạm tội quả tang và số tiền 50.000.000đ thu giữ của Nguyễn Thị Hoài T

  • + 01 (một) bật lửa gas màu vàng;
  • + 01 (một) bật lửa gas màu đỏ;
  • + 01 (một) phong bì kí hiệu “QT TUYÊN” hoàn lại sau giám định, được niêm phong, dán kín bên trong chứa mẫu chất màu đen bám dính trên một mặt 01 (một) mảnh giấy bạc là ma túy, loại Heroine được sử dụng hết trong quá trình giám định;
  • + 01 (một) phong bì kí hiệu “QT THẮNG”, hoàn lại sau giám định được niêm phong, dán kín bên trong chứa mẫu chất màu đen bám dính trên một mặt 01 (một) mảnh giấy bạc là ma túy, loại Heroine được sử dụng hết trong quá trình giám định;
  • + 01 (một) phong trong phong bì ký hiệu “KX1” hoàn lại sau giám định bên trong chứa mẫu chất bột màu trắng bám dính trên 01 (một) dao lam, trên hai mặt có chữ “CROMA” là ma túy, loại Heroine được sử dụng hết trong quá trình giám định, trong 01 (một) hộp nhựa tăm chỉ nha khoa mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định 0,616 gam và vỏ bao gói mẫu sau giám định;
  • + 01 (một) phong trong phong bì ký hiệu “KX1” do Phòng K1 hoàn lại sau giám định bên trong chứa mẫu chất cục bột màu trăng là ma túy, loại Heroine còn lại sau giam định 7,318 gam, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa viền màu đỏ;
  • + 01 (một) phong trong phong bì ký hiệu “KX2” do Phòng K1 hoàn lại sau giám định bên trong chứa mẫu chất cục bột màu trứng là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định 1,744 gam, được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ;
  • + 01 (một) phong trong phong bì ký hiệu “KX3” do Phòng K1 hoàn lại sau giám định bên trong chứa mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định 9,097 gam, được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ t;
  • + 01 (một) thẻ nhớ “Uteck” 32G được niêm phong dán kín trong phong bì ký hiệu “Thẻ nhớ”;
  • + 01 (một) đầu thu màu đen nhãn hiệu “ahua” được niêm phong bằng dải niêm phong có đóng dầu tròn đỏ của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh B;
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone số Seri: RY3LQ62V7H; lắp sim 0364941972;
  • + 05 (năm) mảnh giấy bạc hai mặt đều màu trắng bạc;
  • + 01 (một) điện thoại di động Iphone màu tím có số IMEID1:358034163547547; IMEI2:358034163783365 lắp số điện thoại:0363.299.xxx đã qua sử dụng
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu đen trắng có số imei: 355715152021205 lắp số điện thoại 0367.897.xxx;
  • + 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng có số IMEID1: 354741669237985; IMEI2: 354741669327697 lắp số 0988.118.009;
  • + 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu sắc khác nhau được hàn kín một đầu;
  • + 01 (một) cân điện tử màu đen một mặt có chữ “POCKET SCALE";
  • + 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Đình P;
  • + 01 (một) đăng ký xe ô tô số: 98000131 nhãn hiệu Toyota, BKS: 98A - 617.98 mang tên Nguyễn Thị Hoài T;
  • + 01 (một) máy ép nhiệt màu xanh trắng, máy cũ, đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) phong bì của V2 Bộ C bên trong có các mẫu tóc thu của Nguyễn Thị Hoài T và Vũ Đình P cùng các mẫu có ký hiệu KX1, KX2, KX3 hoàn lại sau giám định.

Trả lại 01 (một) Căn cước công dân mang tên Lý Hoài N, số [...]; + 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Hoài T; + 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe FORTURNER, màu sơn Bạc, biển số 98A - 617.98. + 01 một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị V1, số [...];

Tịch thu sung công quỹ nhà + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại máy một thân đã qua sử dụng, số sê ri 1: 351639344629050, lắp sim số: 0989014232;

+ 01 (một) diện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh-đen, loại máy một thân đã qua sử dụng, có số sêri 1: 353148112056643, lắp sim số: 0973804516;

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Ngọc A mỗi phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị D.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo : Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Ngọc A mỗi phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị D.

Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị D đối đáp với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát: Nhất trí với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng, tuy nhiên mức đề nghị hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là cao bởi vì bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh vô cùng khó khăn, bố mẹ phải nuôi 08 người con, gia đình chưa quan tâm hết đối với bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, khi bị cáo đến nhà nghỉ M là để giót bia chứ không có mục đích tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 04 đến 05 năm tù. Trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng đang tạm giữ của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với lời bào chữa của Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị D: Khi luận tội Đại diện Viện kiểm sát đã vận dụng các điều luật áp dụng cho Người chưa thành niên, vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đối với số tiền thu giữ của bị cáo trực tiếp liên quan đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước, mà không trả lại cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên lời luận tội.

Không ai có tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật chứng thu hồi được, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Nguyễn Hoàng T4, sinh năm 1991, trú tại TDP L, thị trấn C, huyện L, T4 là người chuẩn bị ma túy loại (MDMA) và ma tuý Ke (Ketamine). Khoảng thời gian từ 21 giờ 30 phút đến 23 giờ, ngày 26/12/2023, T4 đã cùng Nguyễn Thành D1, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã Q, huyện L thuê phòng số 05 trên tầng 02 nhà của anh Đặng Ngọc T5, sinh năm 1989, trú tại TDP L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, tại thôn T, xã Q, huyện L, do anh Lê Tuấn L3, sinh năm 2001, trú tại TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang thuê, anh L3 nhờ Nguyễn Ngọc A, sinh năm 2005, trú tại thôn A, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang trông coi, quản lý để T4 và D1 sử dụng ma túy loại (MDMA), tiếp đó T4 rủ thêm Nguyễn Thị N2, sinh năm 2003, trú tại T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình và Giàng Thị D, sinh năm 2007, trú tại Bản Trên Nương, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên đến để sử dụng ma túy cùng T4 và D1. T4 đưa 1½ viên ma túy loại (MDMA) cho D sử dụng, đưa ½ viên ma túy loại (MDMA) cho D1 để D1 đưa cho N2 sử dụng. Tiếp đó T4 và N2 dùng đĩa sứ và bật lửa ga xào ma túy loại (Ketamine) và kẻ K, D quấn tẩu bằng tờ tiền loại Polime, mệnh giá 200.000 đồng để mọi người cùng sử dụng ma túy (Ketamine). Nguyễn Ngọc A biết rõ Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thị N2, Giàng Thị D thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cho các đối tượng thuê.

Hồi 01 giờ 05 phút ngày 27/12/2023, Tổ công tác của Đội Cảnh sát ĐTTP về Ma tuý Công an huyện L phối hợp với Công an xã Q, huyện L, tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của anh Đặng Ngọc T5 ở thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong phòng số 05 trên tầng 2 có 04 đối tượng gômg: Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thị N2 và Giàng Thị D, đồng thời Tổ công tác lập biên bản thu giữ tang vật”.

[4] Hành vi nêu trên của cị cáo Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thị N2, Giàng Thị D đã đủ yêu tố cấu thành tội: "Tổ chức sử sụng trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành D1 đã đủ yêu tố cấu thành tội: "Tổ chức sử sụng trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc A đã đủ yêu tố cấu thành tội: "Chứa chấp việc việc sử sụng trái phép chất ma tuý" theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, một mặt đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý về các loại dược phẩm có tính chất gây nghiện của Nhà nước, mặt khác từ hành vi phạm tội này, đã dẫn đến làm sói mòn đạo đức xã hội, phẩm chất và nhân cách của con người. Từ việc hành vi phạm tội của các bị cáo, không những là nguyên nhân dẫn đến biết bao hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, rơi vào hoàn cảnh cơ cực lầm than, kinh tế gia đình bị kiệt quệ, mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong đời sống, gia đình và xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung về tội phạm.

[5] Xét vai trò của các bị cáo thì thấy : Bị cáo Nguyễn Hoàng T4 là người có vai trò chính, bị cáo là người chuẩn bị ma túy để các bị cáo khác sử dụng, trực tiếp rủ bị cáo N2 và D sử dụng ma túy ; Bị cáo N2 và D có vai trò ngang nhau (N2 dùng đĩa sứ và bật lửa ga xào ma túy loại (Ketamine) và kẻ K, D quấn tẩu bằng tờ tiền loại Polime, mệnh giá 200.000 đồng để mọi người cùng sử dụng ma túy (Ketamine).

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thị N2, Giàng Thị D, Nguyễn Ngọc A sau khi phạm tội đã đầu thú, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Thành D1 có thời gian phục vụ trong quân ngũ, có mẹ để được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, được chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B tặng bằng khen năm 2021, bố đẻ được tặng bằng khen gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc năm 2019, nên được xem xét áp dụng tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T4 trong học tập nhiều năm liền được tặng giấy khen, có bố đẻ được tặng bằng khen, ông nội được tặng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, ông ngoại được tặng huân chương kháng chiến hạng nhất, nên được xem xét áp dụng tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

[8] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về các loại dược phẩm có tính chất gây nghiện của Nhà nước, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Khi phạm tội bị cáo Giàng Thị D chưa thành niên do vậy mức hình phạt không quá ¼ mức hình phạt khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình. Tại phiên tòa Người bào chữa cho bị cáo cho rằng mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo D là cao, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo D từ 04 đến 05 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy: Đại diện Viện kiểm sát đã vận dụng các điều luật áp dụng cho Người chưa thành niên, vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với tội phạm này ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội không có tính chất vụ lợi, không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Đối với người đàn ông đã cho T4 ma túy, quá trình điều tra T4 khai không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Lê Tuấn L3, quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc A khai bản thân được anh Lê Tuấn L3 thuê đến trông coi, quản lý ngôi nhà trên cùng với L3. Anh L3 là chủ quán trên, quán hoạt động kinh doanh phòng trọ trá hình để cho khách đến thuê phòng bay lắc sử dụng ma tuý. Trước khi anh Lê Tuấn L3 bị tai nạn giao thông vào đêm ngày 25/12/2023 phải nằm viện thì Ngọc A và anh L3 cùng nhau ở quán, khi có khách đến Ngọc A là người ra mở cửa cho khách vào, rồi trông coi quán, còn anh L3 là người thu tiền của khách. Thời điểm anh L3 bị tai nạn giao thông thì Ngọc A một mình trực tiếp trông coi, quản lý quán đến khi lực lượng Công an đến kiểm tra. Quá trình điều tra, anh Lê Tuấn L3 trình bày: Anh L3 thuê nhà của anh Đặng Ngọc T5 để kinh doanh phòng trọ nhưng anh L3 không thường xuyên ở đó, thỉnh thoảng anh L3 gọi Ngọc A đến chơi cùng, khi anh L3 không ở đó thì Ngọc A là người trông coi, quản lý, việc Ngọc A làm gì tại đó thì anh L3 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra cho Nguyễn Ngọc A và anh Lê Tuấn L3 đối chất nhưng không có kết quả, các bên vẫn giữ nguyên toàn bộ lời khai. Ngoài lời khai của Ngọc A ra không còn chứng cứ nào khác chứng minh việc anh L3 cho các đối tượng thuê phòng để sử dụng ma túy, nên chưa đủ chứng cứ để xử lý đối với anh Lê Tuấn L3 về hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến anh Lê Tuấn L3 để tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị N2 khai nhận khi N2 xào K thì Nguyễn Thành Thành D1 có dùng điện thoại di động soi cho N2 xào Ke, tuy nhiên D1 không thừa nhận, D1 chỉ thừa nhận bản thân có được đưa ½ viên ma túy loại (MDMA) cho N2 sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành cho D1 và N2 đối chất nhưng không có kết quả. Ngoài lời khai của N2 thì T4 và D không nhìn thấy sự việc trên và không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh D1 giúp sức cho N2 xào K. Tại phiên tòa bị cáo N2 xác định bị cáo D1 không soi điện thoại cũng không giúp sức gì cho bị cáo khi bị cáo xào ke. Do vậy không có căn cứ xử lý đối với D1.

[10] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, số khung: RLHHA0809AY283067, số máy: HA08E-1583086; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015386, biển số đăng ký 98E1-130.81 và 01 (một) biển số xe 98E1-130.81 là ông Nguyễn Hữu N3, sinh năm 1966, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (bố của Nguyễn Thành D1). Ngày 26/02/2024, D1 lấy xe đi nhưng ông N3 không biết D1 dùng xe mô tô đi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với 01 xe gắn máy hai bánh (xe điện), nhãn hiệu ESPERO, màu xanh, số động cơ: JYX60V1600W506354, số khung: RPEYHENPENA506354; 01 (một) phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng số 506354/02687/22/XM-TT đề ngày 10/9/2022 và 01 hoá đơn bán hàng mang tên Phạm Thị L4, là xe của bà L4 (mẹ của Nguyễ Ngọc A1), nên không có căn cứ xử lý. Ngày 10/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 720, trả cho ông N3 và bà Lụa L5 đảm bảo căn cứ. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với các đồ vật gồm: 01 (một) máy chiếu màu trắng, nhãn hiệu Panasonic; 03 (ba) loa thùng màu đen, nhãn hiệu Sam Sung; 01 (một) đèn nháy màu đen, hình tròn; 01 (một) đèn nháy màu đen được; 01 (một) máy chiếu màu trắng, có tên S ProJector; 01 (một) đèn nháy Led màu đen; 01 (một) đèn nháy Led hình tròn, màu đen; 01 (một) đèn Led Laser, màu đen, có chữ “LASER SHOW SYSTEM"; 01 (một) đèn nháy màu đen, có chữ "Party light"; 01 (một) đầu thu camera an ninh, màu trắng, nhãn hiệu “HIKVISION”, không có ổ cứng; 01 (một) camera màu trắng, nhãn hiệu IMOU, không có thẻ nhớ; 01 (một) đầu thu nhãn hiệu “HIKVISION”, không có ổ cứng, màu trắng; 01 (một) máy chiếu màu trắng, nhãn hiệu “Viewsonic”. Ngày 14/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu số 737, tiếp tục làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) hộp bìa cát tông ký hiệu “QT1” được dán dải niêm phong theo quy định (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT2” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT3” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT4” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT5” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 07 (bẩy) điếu thuốc lá; 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ có chữ “LỘC ÔNG BẢY”; 01 (một) đầu lọc thuốc lá màu trắng đã bị bóc vỏ; 02 (hai) đầu lọc thuốc lá đã bị bóc vỏ; 03 (ba) điếu thuốc lá không có đầu lọc thuốc lá là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội, cấm lưu hành, hoặc có giá trị sử dụng nhỏ, cần tịch thu tiêu hủy

Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) máy chiếu màu trắng, nhãn hiệu Mitsubishi; 01 (một) loa thùng màu đen, nhãn hiệu Sam sung; 01 (một) đèn nhấp nháy, màu đen, hình tròn; 01 (một) máy tạo khói màu đen, có chữ LED-500; 03 (ba) đèn nháy màu đen, có chữ “Party Light”; 01 (một) camera màu trắng, nhãn hiệu “HIKVISION”, cũ, đã qua sử dụng, được thu giữ tại đỉnh tường bên trái trước cửa nhà (hướng từ ngoài vào); 01 (một) camera màu trắng, nhãn hiệu “HIKVISION”, cũ, đã qua sử dụng, được thu giữ tại tường giáp cầu thang đi lên tầng 2; 01 (một) camera màu trắng, nhãn hiệu “HIKVISION”, cũ, đã qua sử dụng là tài sản của Lê Tuấn L3, cần trả lại cho L3.

Đối với 01 (một) điện thoại di động iPhone 11, màu vàng, có số IMEI: 356593100859333; IMEI2: 356593100968126, bị nứt vỡ phức tạp màn hình và mặt lưng, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của Nguyễn Hoàng T4; 01 (một) điện thoại di động iPhone 6s, màu hồng, có số IMEI: 355397086990174; MEID: 35539708699017, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của Nguyễn Ngọc A dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;

Đối với 01 (một) điện thoại di động iPhone 12 Promax, màu vàng, có số IMEI: 352048881983178; IMEI2: 352048881858297, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của Nguyễn Thị N2; 01 (một) điện thoại di động iPhone7 Plus, màu bạc, có số IMEI: 355842087753089, MEID: 35584208775308, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của Giàng Thị D; 01 (một) điện thoại di động iPhone 12Pro, màu vàng, có số IMEI:355103316578668; số IMEI2: 355103316728578, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và 01 (một) điện thoại di động iPhone 12 mini, màu xanh, bị nứt vỡ phức tạp mặt lưng, có số IMEI: 355804821816523; IMEI2: 355804821786403, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của Nguyễn Thành D1 không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ điện thoại của bị cáo Nguyễn Thị N2 và Nguyễn Thành D1 để đảm bảo thi hành án.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Thành D1 phạm tội nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Giàng Thị D phạm tội nhưng là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sở thẩm cho bị cáo D thoe quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị D, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định cuả pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T4 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N2 07 (bẩy) năm tù về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị D 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  4. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D1 02 (hai) năm tù về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 07 (bẩy) năm tù về tội "chứa chấp việc việc sử dụng trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định (trừ tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Giàng Thị D); Số ma túy trong 01 (một) hộp bìa cát tông ký hiệu “QT1” được dán dải niêm phong theo quy định (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT2” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT3” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT4” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT5” (do Phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 07 (bẩy) điếu thuốc lá; 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ có chữ “LỘC ÔNG BẢY”; 01 (một) đầu lọc thuốc lá màu trắng đã bị bóc vỏ; 02 (hai) đầu lọc thuốc lá đã bị bóc vỏ; 03 (ba) điếu thuốc lá không có đầu lọc thuốc lá là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội, cấm lưu hành, hoặc có giá trị sử dụng nhỏ, cần tịch thu tiêu hủy

Trả lại cho Lê Tuấn L3 01 (một) máy chiếu màu trắng, nhãn hiệu Mitsubishi; 01 (một) loa thùng màu đen, nhãn hiệu Sam sung; 01 (một) đèn nhấp nháy, màu đen, hình tròn; 01 (một) máy tạo khói màu đen, có chữ LED-500; 03 (ba) đèn nháy màu đen, có chữ “Party Light”; 01 (một) camera màu trắng, nhãn hiệu “HIKVISION”, cũ, đã qua sử dụng, được thu giữ tại đỉnh tường bên trái trước cửa nhà (hướng từ ngoài vào); 01 (một) camera màu trắng, nhãn hiệu “HIKVISION”, cũ, đã qua sử dụng, được thu giữ tại tường giáp cầu thang đi lên tầng 2; 01 (một) camera màu trắng, nhãn hiệu “HIKVISION”, cũ, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động iPhone 11, màu vàng, có số IMEI: 356593100859333; IMEI2: 356593100968126, bị nứt vỡ phức tạp màn hình và mặt lưng, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của Nguyễn Hoàng T4; - 01 (một) điện thoại di động iPhone 6s, màu hồng, có số IMEI: 355397086990174; MEID: 35539708699017, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của Nguyễn Ngọc A. Số tiền polime mệnh giá 200.000đồng của bị cáo Giàng Thị D được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT1.

Trả lại cho Nguyễn Thị N2 01 (một) điện thoại di động iPhone 12 Promax, màu vàng, có số IMEI: 352048881983178; IMEI2: 352048881858297, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng; Trả lại cho Nguyễn Thành D1 01 (một) điện thoại di động iPhone 12Pro, màu vàng, có số IMEI:355103316578668; số IMEI2: 355103316728578, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và 01 (một) điện thoại di động iPhone 12 mini, màu xanh, bị nứt vỡ phức tạp mặt lưng, có số IMEI: 355804821816523; IMEI2: 355804821786403, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho Giàng Thị D 01 (một) điện thoại di động iPhone7 Plus, màu bạc, có số IMEI: 355842087753089, MEID: 35584208775308, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Ngọc A mỗi phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị D.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phan Văn Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/ HS-ST ngày 08/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 99/2024/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng T4, sinh năm 1991, trú tại TDP L, thị trấn C, huyện L, T4 là người chuẩn bị ma túy loại (MDMA) và ma tuý Ke (Ketamine). Khoảng thời gian từ 21 giờ 30 phút đến 23 giờ, ngày 26/12/2023, T4 đã cùng Nguyễn Thành D1, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã Q, huyện L thuê phòng số 05 trên tầng 02 nhà của anh Đặng Ngọc T5, sinh năm 1989, trú tại TDP L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, tại thôn T, xã Q, huyện L, do anh Lê Tuấn L3, sinh năm 2001, trú tại TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang thuê, anh L3 nhờ Nguyễn Ngọc A, sinh năm 2005, trú tại thôn A, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang trông coi, quản lý để T4 và D1 sử dụng ma túy loại (MDMA), tiếp đó T4 rủ thêm Nguyễn Thị N2, sinh năm 2003, trú tại T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình và Giàng Thị D, sinh năm 2007, trú tại Bản Trên Nương, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên đến để sử dụng ma túy cùng T4 và D1. T4 đưa ½ viên ma túy loại (MDMA) cho D sử dụng, đưa ½ viên ma túy loại (MDMA) cho D1 để D1 đưa cho N2 sử dụng. Tiếp đó T4 và N2 dùng đĩa sứ và bật lửa ga xào ma túy loại (Ketamine) và kẻ K, D quấn tẩu bằng tờ tiền loại Polime, mệnh giá 200.000 đồng để mọi người cùng sử dụng ma túy (Ketamine). Nguyễn Ngọc A biết rõ Nguyễn Hoàng T4, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thị N2, Giàng Thị D thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cho các đối tượng thuê.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger