Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU ĐỨC

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/DSST

Ngày 30-9-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hoa;

2. Bà Trần Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Quang Thi– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 126/2024/QÐST-HPT, ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB).

Trụ sở chính: Số A L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Pháp nhân đại diện theo uỷ quyền: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Q1 – Ngân hàng Thương mại cổ phần Q; Địa chỉ: Số C L, phường L, quận B, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh D – Chức vụ: Tổng giám đốc;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Mạc Đức T1 - Chức vụ Phó giám đốc phụ trách MB AMC ĐNB, người đứng đầu Chi nhánh Đ;

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lê Văn S, sinh năm 1988 và ông

Nguyễn Văn T2, sinh năm 1999; Cùng địa chỉ: Lầu C, tòa nhà N, số I đường H, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Ông T2, ông S vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: 1. Ông: Nguyễn Tấn D1; Sinh năm: 1990;

Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (Vắng mặt).

2. Bà: Hứa Kiến N; Sinh năm: 1994

Địa chỉ 1: Số A V, Phường H, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ 2: Số D đường G, phường C, quận F, thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ 3: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và phần trình bày trong bản tự khai, các biên bản làm việc nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, trình bày:

Ngày 19/12/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q – Chi nhánh V đã ký với ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N hợp đồng cho vay số 0001.22.551.24313858.TD với nội dung MB cho ông D1 và bà N vay số tiền 5.000.000.000 đồng, mục đích vay là để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán gạo.

Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, MB đã giải ngân ông D1, bà N đã nhận nợ theo Văn bản nhận nợ sau:

Theo nội dung được thoả thuận tại Văn bản nhận nợ số LD 2300911893, ngày 09/01/2023 thì: Số tiền giải ngân: 5.000.000.000 đồng, mục đích sử dụng: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán lúa gạo; Thời hạn vay: đến hết ngày 09/12/2023; Lãi suất cho vay tại ngày giải ngân đến ngày 08/4/2023 là 10%/năm, lãi suất cho vay tiếp theo điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 09/4, 09/7, 09/10... hàng năm và được xác định bằng lãi suất tham chiếu VND thời hạn khoản vay <= 12 tháng đối với khách hàng cá nhân do MB công bố/thông báo có hiệu lực áp dụng tại ngày điều chỉnh lãi suất cộng biên độ 2,5%/năm; tiền lãi được tính bằng dư nợ gốc thực tế nhân với số ngày vay thực tế nhân với lãi suất cho vay chia cho 365; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất chậm trả bằng 10%/năm. Thời hạn trả nợ gốc vào ngày kết thúc khoản vay là ngày 09/12/2023; trả nợ lãi theo định kỳ hàng tháng, vào ngày 25 hàng tháng bắt đầu từ ngày 25/01/2023.

Để bảo đảm cho các Hợp đồng cho vay thì ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N (Bên vay vốn theo Hợp đồng cho vay) đã thế chấp tài sản bảo đảm là:

Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với

đất, tại thửa đất số: 414, tờ bản đồ: 63, địa chỉ: Xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 003229; số vào sổ cấp GCN: CS08812; Cơ quan cấp: Sơ Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B; cấp ngày: 14/12/2021, cập nhật tặng cho ông Nguyễn Tấn D1 ngày 23/06/2022. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 78366.22.551.24313858.BÐ, ký ngày 06/01/2023 số Công chứng số: 28, quyển số 01/2023/TP/CC- SCC/HĐGD và đã được Ngân hàng đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán, dư nợ: Đến ngày 09/7/2023 khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay và khế ước trả nợ. Dư nợ tạm tính của ông D1, bà N đến ngày 30/9/2024 tại Ngân hàng M là: 5.799.335.617 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 5.000.000.000 đồng và lãi là 799.335.617 đồng.

Ngân hàng TMCP Q đã gửi nhiều thông báo, công văn yêu cầu ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N trà nợ hoặc bàn giao tài sản bảo đảm cho MBAMC xử lý theo đúng quy định nhưng ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N đều không thực hiện theo yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. MBAMC đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng và các bên liên quan theo đúng quy định.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP Q này, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N ra Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, kính đề nghị Quý Tòa xem xét, giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc ông Nguyễn Tấn D1 và Bà Hứa Kiến N thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q theo các Hợp đồng cho vay và các Văn bản nhận nợ trên với số tiền (tạm tính đến hết ngày 30/9/2024) là: 5.799.335.617 đồng (Năm tỷ, bảy trăm chín mươi chín triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười bảy đồng), trong đó bao gồm 5.000.000.000 đồng nợ gốc; 799.335.617 đồng nợ lãi.
  2. Kể từ ngày 01/10/2024, ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận quy định tại các Hợp đồng cho vay và các Văn bản nhận nợ số cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q;
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho MB, tài sản bảo đảm là:

Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số: 414, tờ bản đồ: 63, địa chỉ: Xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đất được Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 003229, ngày 14/12/2021, cập nhật tặng cho ông Nguyễn Tấn D1 ngày 23/06/2022.

  1. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N đối với Ngân hàng M. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng M.

Tại đơn phản trình bày trong bản tự khai, bị đơn bà Hứa Kiến N, trình bày:

Trước đây bà N và ông D1 có ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần Q để vay số tiền 5.000.000.000đ (năm tỷ đồng) theo hợp đồng cho vay số 0001.22.551.24313858.TD, mục đích vay là để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán gạo; lãi suất là 10%/năm, hạn trả nợ là ngày 09/12/2023, sau khi ký kết hợp đồng vay thì MB đã giải ngân ông D1, bà N số tiền nêu trên và ông D1, bà N có xác nhận bằng Văn bản nhận nợ Văn bản nhận nợ số LD 2300911893, ngày 09/01/2023;

Để bảo đảm số tiền nợ nêu trên MB có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 78366.22.551.24313858.BĐ, ngày 06/01/2023, để thế chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 414, tờ bản đồ: 63, địa chỉ: Xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và toàn bộ tài sản trên diện tích đất nêu trên.

Kể từ khi vay đến nay, vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên ông D1, bà N chưa trả được số nợ theo hợp đồng vay nêu trên cho MB, tạm tính đến ngày 03/6/2024 ông D1 và bà N còn nợ MB số tiền là 5.799.335.617 đồng, trong đó nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, còn lại là nợ lãi. Nay MB yêu cầu ông D1, bà N trả số tiền nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh tiếp theo thì bà N đồng ý trả tiền nợ cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 03/6/2024 là 5.799.335.617 đồng, còn số tiền lãi phát sinh tiếp theo thì bà N xin MB không tính số tiền lãi này đối với ông D1, bà N.

Trường hợp ông D1, bà N không trả được số tiền nợ nêu trên thì bà N đồng ý cho cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với thửa đất số 414, tờ bản đồ: 63, địa chỉ: Xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để thu hồi nợ cho MB, trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ để thu hồi nợ thì bà N đồng ý tiếp tục trả số tiền còn lại cho M.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn D1:

Toà án đã tiến hành tổng đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao

nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự nhưng ông D1 vẫn vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến của ông D1.

Ngày 19/7/2024 Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất là tài sản thế chấp, kết quả xem xét thẩm định như sau: Toàn bộ thửa đất nêu trên được bao quanh bởi tường rào, cổng sắt, trên đất có 01 căn nhà, 01 sân lát đá, 01 nhà xe. Theo đại diện Ngân hàng xác định diện tích đất nêu trên hình thể không thay đổi so với khi các bên kí kết hợp đồng thế chấp, về công trình, tài sản trên đất thì tại thời điểm thế chấp những tài sản này đang được hình thành, xây dựng; Công trình, nhà cửa, tài sản trên đất là do ông D1 tạo dựng nên, ông D1, bà N là người trực tiếp ở trên đất, tuy nhiên thời gian gần đây, ông D1, bà N thường xuyên bỏ đi vắng nhà.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, các thành viên hội đồng xét xử, thư ký phiên toà, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sựbị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N. Nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng. Nơi cư trú của ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N là xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, tuy nhiên đại diện nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt; Tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N vắng mặt lần thứ 2, riêng bị đơn bà N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[3] Về nội dung: Hợp đồng cho vay và hợp đồng thế chấp giữa ông Nguyễn Tấn D1, bà Hứa Kiến N với MB đang được thực hiện và có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2015 nên cần áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự 2015 để xem xét giải quyết.

[3.1] Hợp đồng cho vay số 0001.22.551.24313858.TD, ngày 06/01/2023 được ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N và MB ký kết dựa trên sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng tuân thủ các quy định về hình thức và nội dung, phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hợp đồng cho vay trên có hiệu lực pháp luật và phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên

Tại Hợp đồng cho vay số 0001.22.551.2 4313858.TD, ngày 06/01/2023, Văn bản nhận nợ số LD 2300911893, ngày 09/01/2023 và lời khai của đại diện MB thì số tiền nợ gốc ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N vay của MB là 5.000.000.000 đồng. MB xác nhận đến ngày 09/7/2023 ông D1, bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay và khế ước trả nợ. Nay MB yêu cầu ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N phải trả cho MB số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 5.799.335.617 đồng (Năm tỷ, bảy trăm chín mươi chín triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười bảy đồng), trong đó bao gồm 5.000.000.000 đồng nợ gốc; 799.335.617 đồng nợ lãi. Ngoài ra ông D1, bà N còn phải trả cho MB tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2024 cho đến khi ông D1, bà N thanh toán toàn bộ khoản nợ tại MB theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và các Văn bản nhận nợ kèm theo.

Căn cứ vào Điều 3 của Hợp đồng cho vay số 0001.22.551.2 4313858.TD ngày 06/01/2023, Mục II của Văn bản nhận nợ số LD 2300911893, ngày 09/01/2023 mà các bên đã ký kết, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, các Điều 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên MB đã đòi lại toàn bộ số nợ gốc và áp dụng lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay là phù hợp với quy định của Ngân hàng N1 về việc cho vay của các Tổ chức tín dụng.

Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi suất phải trả là có cơ sở nên được chấp nhận, vì vậy có cơ sở để buộc ông D1, bà N phải thanh toán tiền gốc và lãi suất tính đến ngày 30/9/2024 là 5.799.335.617 đồng (Năm tỷ, bảy trăm chín mươi chín triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười bảy đồng), trong đó bao gồm 5.000.000.000 đồng nợ gốc; 799.335.617 đồng nợ lãi. Ngoài ra ông D1, bà N còn phải trả cho MB tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2024 cho đến khi ông D1, bà N thanh toán toàn bộ khoản

nợ tại MB theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và các Văn bản nhận nợ kèm theo.

[3.2] Về Hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay vốn của ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N thì ông D1 và bà N có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số 78366.22.551.24313858.BĐ ngày 06/01/2023, đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 414, tờ bản đồ: 63, địa chỉ: Xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 003229 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 14/12/2021, cập nhật biến động tặng cho cho ông Nguyễn Tấn D1 ngày 23/6/2022; Toàn bộ vật phụ của tài sản thế chấp, toàn bộ hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp; toàn bộ số tiền, lợi ích, tài sản được đền bù, bồi thường, bồi thường thiệt hại, thay thế hoàn trả mà bên thế chấp được nhận; toàn bộ tài sản mới được hình thành do việc chia tách, hợp nhất, sáp nhập tài sản thế chấp; công trình xây dựng (bổ sung, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa) đã, đang, sẽ hình thành sau thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp gắn liền với tài sản thế chấp và các trang thiết bị kèm theo công trình xây dựng.

Xét thấy tài sản đảm bảo thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N và đã ký kết để bảo đảm cho khoản vay của ông D1 và bà N, việc kí kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, tài sản đã được đăng kí giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C là phù hợp với các quy định tại các Điều 194, 318, 319 của Bộ luật Dân sự 2015, như vậy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên có hiệu lực pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Xét yêu cầu của MB về việc trong trường hợp ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, yêu cầu trên phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Trường hợp giá trị tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết các khoản nợ thì ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N có nghĩa vụ phải tiếp tục trả số nợ còn thiếu cho MB cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Do yêu cầu của MB được chấp nhận toàn bộ nên ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N phải chịu toàn bộ chi phí này. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã được MB tạm ứng toàn bộ nên cần buộc ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N trả lại cho MB số tiền 3.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của MB được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số326/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm trên số nợ phải trả là 112.000.000đ + (1.799.335.617₫ x 0,1%) = 113.799.335đ (Một trăm mười ba triệu, bảy trăm chín mươi chín ngàn, ba trăm ba mươi lăm đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 299, 318, 320, 322 và Điều 323 của Bộ luật Dân sự 2015. Áp dụng các Điều 91, 94, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Áp dụng Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q:
    • - Buộc ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tổng số tiền gốc và lãi suất tính đến ngày 30/9/20245.799.335.617 đồng (Năm tỷ, bảy trăm chín mươi chín triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn, sáu trăm mười bảy đồng), trong đó bao gồm 5.000.000.000 đồng nợ gốc; 799.335.617 đồng nợ lãi. Ngoài ra ông D1, bà N còn phải trả cho MB tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2024 cho đến khi ông D1, bà N thanh toán toàn bộ khoản nợ tại MB theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0001.22.551.2 4313858.TD ngày 19/12/2022 và Văn bản nhận nợ số LD 2300911893, ngày 09/01/2023 mà các bên đã ký kết.
    • - Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 414, tờ bản đồ: 63, địa chỉ đất tại xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 003229 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 14/12/2021, cập nhật biến động do tặng cho cho ông Nguyễn Tấn D1 ngày 23/6/2022; Toàn bộ vật phụ của tài sản thế chấp, toàn bộ hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp; toàn bộ số tiền, lợi ích, tài sản được đền bù,
  • bồi thường, bồi thường thiệt hại, thay thế hoàn trả mà bên thế chấp được nhận; toàn bộ tài sản mới được hình thành do việc chia tách, hợp nhất, sáp nhập tài sản thế chấp; công trình xây dựng (bổ sung, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa) đã, đang, sẽ hình thành sau thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp gắn liền với tài sản thế chấp và các trang thiết bị kèm theo công trình xây dựng (nếu có).
  • Trường hợp giá trị tài sản thế chấp đã xử lý, phát mãi không đủ thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q thì ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N có nghĩa vụ phải tiếp tục trả hết số nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay đã ký.
  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng). Ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn D1 và bà Hứa Kiến N phải chịu 113.799.335đ (Một trăm mười ba triệu, bảy trăm chín mươi chín ngàn, ba trăm ba mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Ngân hàng Thương mại cổ phần Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.586.500đ (Năm mươi sáu triệu, năm trăm tám mươi sáu ngàn, năm trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001746 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức.
  5. Quyền kháng cáo: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử (30-9-2024); Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng là 15 ngày kể từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để xin Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Châu Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/DSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 99/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần Q tranh chấp hợp đồng tín dụng với Nguyễn Tấn D1, Hứa Kiến N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger