Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 99/2024/HS-PT

Ngày 26 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Ông Nguyễn Xuân Trọng

Thư ký phiên toà: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:

Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số /2024/HS-PT ngày tháng năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị X đối với bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị X, sinh ngày 19 tháng 3 năm 1971 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã H, thị xã S, tỉnh Lào Cai; chỗ ở hiện nay: TDP M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị S; có chồng là Nguyễn Văn Đ và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện tại ngoại (Có mặt).

Trong vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị X mở cơ sở kinh doanh thu mua phế liệu tại tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình kinh doanh thu mua phế liệu, X quen biết với Nguyễn Kim Đ1 chuyên lái xe lôi, vì Đ1 nhiều lần bán phế liệu và chở hàng cho X. Khoảng giữa tháng 12/2023, Nguyễn Văn N là người có quan hệ quen biết từ trước đến gặp X, nói về việc không có việc làm muốn tìm người đi làm cùng (Ý là muốn tìm người cùng đi trộm cắp tài sản rồi bán cho X). X hiểu ý của N và đồng ý gọi điện thoại cho Nguyễn Kim Đ1 đến gặp tại nhà X để nói chuyện với N. Khi gặp N hỏi Đ1 có việc gì làm không, cho N đi làm với thì Đ1 nói sẽ cho N đi cùng Đường để trộm cắp tài sản là dây cáp điện trên địa bàn thành phố V về bán cho X, địa điểm đi trộm cắp cáp điện ở đâu thì Đ1 sẽ nói với N sau. Đường, N tiếp tục bàn bạc thống nhất với X, khi N có ý định đi trộm cắp tài sản thì N liên lạc điện thoại để Đ1 đến đón N rồi cùng nhau đến cơ sở kinh doanh của X. Khi đến sẽ gọi X rồi lấy xe mô tô BKS: 88H1 - 059.55 và dụng cụ để sẵn tại nhà X để đi trộm cắp. Nếu trộm cắp được tài sản là dây cáp điện lõi đồng thì Đ1 và N mang đến bán cho X lấy tiền tiêu xài. Trong khoảng thời gian từ ngày 27/12/2023 đến ngày 15/01/2024, Đ1 đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là dây cáp điện lõi đồng trên địa bàn thành phố V đem bán cho X (Trong đó có 02 lần Đường và N cùng thực hiện hành vi trộm cắp, 02 lần Đường thực hiện một mình), cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 27/12/2023, N và Đ1 hẹn nhau đi trộm cắp tài sản, Đ1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS: 88K2 – 4611 đến đón N ở nhà. Sau đó, N và Đ1 cùng nhau đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của X để đổi sang xe máy BKS: 88H1 – 059.55 và lấy kìm cắt sắt, xà beng bằng kim loại dài khoảng 50cm. Đường là người điều khiển xe máy chở N ngồi sau, đi tìm các tuyến đường đang lắp đặt đường dây điện, quan sát khu vực nào vắng người qua lại để trộm cắp tài sản là dây cáp điện. Khi đi đến đoạn đường vành đai 2 gần vòng xuyến VCI thuộc phường Đ, thành phố V đầu đường hướng đi Trường C, phát hiện tại khu vực này đang thi công lắp đặt đường điện không có người quản lý, vắng người qua lại, Đ1 dừng xe để trộm cắp. Đường đứng cảnh giới, N cầm kìm đi đến đầu cột điện cắt đứt dây cáp điện đấu nối ngầm dưới đất, sau đó đi đến 02 cột tiếp theo dùng kìm cắt đứt dây cáp điện, dây đồng tiếp địa qua các cột rồi rút dây cáp điện, dây tiếp địa đã cắt đứt. N và Đ1 trộm cắp được 105m dây cáp điện chiếu sáng chủng loại DSTA, thông số 4x10mm² và 105m dây tiếp địa, thông số kỹ thuật M10 là tài sản của Công ty Cổ phần N1 đang thi công tuyến đường gầnTrường chuyên Vĩnh Phúc. Sau đó, N cuộn tròn dây cáp điện này để trên yên xe máy, Đ1 điều khiển xe, Nam ngồi sau giữ dây cáp điện cùng nhau chở về cửa hàng thu mua phế liệu của X. Lượng cáp điện trộm cắp được cân nặng khoảng 79 kg, X thu mua với giá 4.540.000 đồng (Bốn triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng). N và Đ1 chia nhau tiền mỗi người được 2.270.000 đồng (Hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Đường để xe máy BKS: 88H1-059.55 và kìm cắt sắt ở cửa hàng, lấy xe máy BKS: 88K2 - 4611 đi về nhà. Toàn bộ số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản, Nam và Đ1 đã tiêu xài cá nhân hết. Số dây cáp điện trộm cắp được, Xuân tách lấy lõi đồng rồi gộp chung với số sắt vụn thu mua khác bán cho một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ; X cũng không nhớ bán được bao nhiêu tiền.

Vụ thứ hai: Ngày 02/01/2024, N gọi điện rủ Đ1 tiếp tục đi trộm cắp tài sản là dây cáp điện có lõi đồng bán lấy tiền. Khoảng 01 giờ ngày 03/01/2024, Đ1 đi xe máy BKS: 88K2–4611 đến đón N, sau đó N và Đ1 đi đến cửa hàng của X đổi sang xe máy BKS: 88H1 - 059.55 và lấy kìm cắt sắt, xà beng để tại cửa hàng của X rồi cùng nhau đi trộm cắp dây cáp điện. Đường là người điều khiển xe đi đến đoạn gần vòng xuyến đường L, phường H, thành phố V hướng đi cổng chào Y. Tại đây, N và Đ1 phát hiện khu vực này không có người trông coi quản lý, vắng người qua lại thì dừng xe để trộm cắp dây điện. Đường là người dùng xà beng đào đất ở hai đầu cột điện tại vị trí các cột 6.1, 6.2, 6.6 còn N dùng kìm cắt đứt dây cáp điện ngầm dưới lòng đất ở đầu cột điện đoạn mà Đường đào đất. Sau khi đào đất, Nam cùng Đường kéo lên được 70m dây cáp điện chủng loại 0.6/Kv - Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC – (3x25 + 1x16)mm² là tài sản do Công ty Cổ phần M quản lý. N dùng kìm cắt ngắn dây cáp trộm cắp được thành các đoạn có chiều dài khoảng 40-60cm, dùng bao tải cuốn lại và để lên yên xe. N và Đ1 chở về cửa hàng phế liệu của X. Lượng cáp điện cân nặng 114kg, X thu mua với giá 8.600.000 đồng (tám triệu sáu trăm nghìn đồng). Do trước đó Đ1 có vay của X 4.000.000đ nên đã trả nợ luôn cho X số tiền 4.000.000 và chỉ nhận về 4.600.000đ. Sau đó, Đ1 chia cho N 4.000.000đ và giữ lại 600.000đ. N và Đ1 để lại xe máy BKS: 88H1 - 059.55 cùng kìm, xà beng ở cửa hàng của X đổi xe máy BKS: 88K2 - 4611 đi về. Toàn bộ số tiền này N và Đ1 đã tiêu xài cá nhân hết. Số dây cáp điện trộm cắp được, Xuân tách lấy lõi đồng rồi gộp chung với số sắt vụn thu mua khác bán cho một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ; X cũng không nhớ bán được bao nhiêu tiền.

Vụ thứ ba: Khoảng 4 giờ ngày 14/01/2024, Đ1 đi bộ đến cửa hàng của X lấy xe máy đi với mục đích trộm cắp dây cáp điện. Khi đến cửa hàng, X mở cửa, Đ1 lấy xe máy BKS: 88H1 - 059.55 và kìm rồi một mình đi loanh quanh trong địa bàn thành phố V. Đến khu vực đường T, phường K, thành phố V (Gần cửa hàng của X), Đ1 quan sát thấy có dây cáp hở nhô lên mặt đất. Lúc này, Đ1 dừng xe, đến vị trí cáp hở, dùng kìm cắt được 01 đoạn cáp dài 3,1m chủng loại 4x16mm.50 C - S.Korea 25442551 là tài sản do Công ty Cổ phần M quản lý. Lấy được đoạn cáp điện, Đ1 cắt thành từng đoạn nhỏ rồi mang đến bán cho X.Lượng cáp điện cân nặng được 3,9kg, bán cho X được 330.000 đồng (Ba trăm ba mươi nghìn đồng). Số tiền này Đ1 tiêu sài cá nhân hết.

Vụ thứ tư: Khoảng 4 giờ ngày 15/01/2024, Đ1 đi bộ đến cửa hàng của X, lấy xe máy BKS: 88H1 - 059.55 và kìm, đi loanh quanh tại địa bàn thành phố V để trộm cắp tài sản. Tại khu vực đường T, phường K, thành phố V, Đường quan sát thấy có dây cáp hở nhô lên mặt đất. Đường dùng kìm cắt được 01 đoạn cáp dài 10,96m chủng loại 4x16mm.50 C - S.Korea 25442551 là tài sản do Công ty Cổ phần M quản lý. Sau khi trộm cắp được cáp, Đ1 cắt thành từng đoạn rồi mang đến bán cho X. Lượng cáp cân được 09kg, X trả cho Đ1 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) tiền mặt. Số tiền này Đ1 tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi xảy ra sự việc như nêu trên, Công ty Cổ phần M và Công ty Cổ phần N1 đã cử đại diện đến Cơ quan Công an trình báo.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở là cơ sở kinh doanh của Nguyễn Thị X tại tổ dân phố M, phường K, thành phố V thu giữ các vật chứng có liên quan gồm: 01 xe máy BKS: 88H1 – 059.55 cùng nhiều đồ vật trên xe; T tại cửa hàng của X: 19 đoạn dây cáp điện lõi đồng đường kính 2,5cm với tổng chiều dài là 10,96m; 07 đoạn dây cáp điện lõi đồng đường kính 2cm với tổng chiều dài là 3,1m và nhiều đồ vật khác.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường cơ quan điều tra tạm giữ: 03 mẩu đầu dây cáp điện tại cột đèn Đ 6.5 vòng xuyến Lê Hồng P; 01 đoạn dây cáp tại vị trí dưới cống thoát nước vòng xuyến Lê Hồng P; 01 đoạn dây cáp điện tại đoạn đường đi Trường THPT C; 01 đoạn dây cáp điện thu tại vị trí đường T, phường K. Đối với những đồ vật, tài sản này Cơ quan điều tra xác định là vật chứng của vụ án.

Ngày 17/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã Yêu cầu định giá tài sản số 219 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V định giá đối với tài sản bị trộm cắp tại đoạn đường vành đai 2 gần vòng xuyến VCI thuộc phường Đ, thành phố V (Định giá qua hồ sơ). Ngày 19/01/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố V có Kết luận định giá tài sản số 05 xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 105m dây cáp điện chiếu sáng, thông số kỹ thuật 4 x 10 mm² là 17.498.250 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn hai trăm năm mơi đồng); 105m dây tiếp địa, thông số kỹ thuật M10 là 3.256.050 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn không trăm năm mươi đồng). Tổng giá trị tài sản là 20.754.300 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn ba trăm đồng).

Ngày 19/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V có văn bản số 259 đề nghị Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố V định giá đối với: 70m (Bảy mươi mét) dây cáp lõi đồng chủng loại Cáp 0,6/1Kv - Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC - (3x25 + 1x16)mm²; cũ đã qua sử dụng được lắp đặt từ năm 2016; Định giá qua hồ sơ (Tuyến đường L, phường H, V, Vĩnh Phúc; Đơn vị thi công Công ty TNHH M1); 10,96m (Mười phẩy chín sáu mét) dây cáp chủng loại 4x16mm. 50mm C - Sun Electric. Korea 25442551 và 3,10m (Ba phẩy mười mét) dây cáp chủng loại 4x25mm. 50mm C – Sun Electric. Korea 25442551 (Tuyến đường T, phường K, thành phố V, chưa xác định đơn vị thi công); 04m (Bốn mét) dây 0,6/1kV-Cu/XPPE/PVC/DSTA/PVC; Định giá qua tài liệu (T, K, V; Đơn vị thi công Công ty TNHH M1).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 06 ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thành phố V kết luận: 70m dây cáp lõi đồng chủng loại Cáp 0,6/1Kv- Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC - (3x25 + 1x16)mm²trị giá 30.663.010 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm sáu mươi bà nghìn không trăm linh một nghìn đồng); 10,96m (Mười phẩy chín sáu mét) dây cáp chủng loại 4x16mm. 50mm C - Sun Electric. Korea 25442551 trị giá 2.984.100 đồng (Hai triệu chín trăm tám mươi tư nghìn một trăm đồng); 3,10m (Ba phẩy mười mét) dây cáp chủng loại 4x25mm. 50mm C – Sun Electric. Korea 25442551 trị giá1.352.728 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi hai nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng); 04m dây 0,6/1kV-Cu/XPPE/PVC/DSTA/PVC trị giá 1.510.540 đồng. Tổng trị giá tài sản theo định giá là 36.510.378 đồng.

Với hành vi nêu trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 15/7/2024 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị X 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/7/2024 bị cáo Nguyễn Thị X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Tại phiên toà bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ quyền công tố tại phiên toà phúc thẩm phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị X làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.
  2. [2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị X đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, có đủ căn cứ để xác định như sau: Do cần tiều tiêu xài cá nhân và ham hưởng lợi nên Nguyễn Kim Đ1, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị X đã bàn bạc thống nhất: Đường và N sẽ đi trộm cắp dây cáp điện do các đơn vị đang thi công không có người trông giữ, đem về bán cho X kiếm lời. Trong hai ngày 27/12/2023; 03/01/2024 Nguyễn Kim Đ1, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị X đã thực hiện 02 vụ Trộm cắp tài sản là dây cáp điện với tổng trị giá tài sản là 51.417.310đ; Ngoài ra Nguyễn Kim Đ1 và Nguyễn Thị X còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác vào các ngày 14/01/2024 và 15/01/2024 với tổng trị giá tài sản trộm cắp là 4.336.828đ. Cụ thể như sau:

    Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 27/12/2023, tại đoạn đường vành đai 2 gần vòng xuyến VCI thuộc phường Đ, thành phố V đầu đường hướng đi T1 chuyên Vĩnh Phúc, Đ1 và N đã trộm cắp được 105m dây cáp điện chiếu sáng chủng loại DSTA, thông số 4x10mm² và 105m dây tiếp địa, thông số kỹ thuật M10 là tài sản của Công ty Cổ phần N2 rồi đem về bán cho X. Trị giá tài sản theo định giá là 20.754.300 đồng.

    Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 03/01/2024, tại đoạn đường L, phường H, thành phố V gần vòng xuyến hướng đi cổng chào huyện Y, Đ1 và N đã trộm cắp được 70m dây điện chủng loại 0.6/Kv - Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC – (3x25 + 1x16)mm² là tài sản của Công ty Cổ phần M rồi đem về bán cho X.Trị giá tài sản theo định giá là: 30.663.010đ.

    Vụ thứ ba: Khoảng 4 giờ ngày 14/01/2024, tại khu vực đường T, phường K, thành phố V, Đường đã trộm cắp 3,10m dây cáp chủng loại 4x25mm. 50mm C – Sun Electric. Korea 25442551 của Công ty Cổ phần M rồi đem về bán cho X. Trị giá tài sản theo định giá là: 1.352.728 đồng.

    Vụ thứ tư: Khoảng 4 giờ ngày 15/01/2024, tại khu vực đường T, phường K, thành phố V, Đường đã trộm cắp 10,96m dây cáp chủng loại 4x16mm. 50mm C - Sun Electric. Korea 25442551 củaCông ty Cổ phần Môi trường và Dịch vụ đô thị V rồi đem về bán cho X. Trị giá tài sản theo định giá là: 2.984.100 đồng.

  3. [3] Với hành vi phạm tội nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thị X về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và xử phạt Nguyễn Thị X 03 năm tù là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. [4] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị X, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thị X là đồng phạm, giúp sức tích cực, hứa hẹn tiêu thụ tài sản do các bị cáo trộm cắp, trị giá tài sản trộm cắp 51.419.310đ (X, Đường, N) và X, Đ1 còn thực hiện trộm cắp thêm 02 vụ với số tiền là 4.336.828đ. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt 03 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

    Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền cấp sơ thẩm buộc phải bồi thường, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thờ cúng chú ruột là liệt sỹ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới, chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

    Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị X được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị X, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 15/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị X 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nguyễn Thị X không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND thành phố Vĩnh Yên;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ + Toà hình sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đỗ Anh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 99/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị X cùng đồng phạm trộm cắp tài sản là cắp dây cáp điện do các đơn vị đang thi công không có người trông giữ và bán kiếm lời
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger