Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Đức

Ông Nguyễn Đăng Hoà

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Khánh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hà Thị L, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1987 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: Làng K, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Phương D và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Đoàn Văn M (đã ly hôn) và 06 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  2. Bùi Công K, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1994 tại tỉnh Bình Định. Nơi thường trú: 108/4 N, tổ D, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện tại: 1 L, tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lễ tân nhà nghỉ; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Thị Thu T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 15/12/2023 và tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
  3. Đoàn Văn D1 (tên gọi khác: Q), sinh ngày 23 tháng 4 năm 2000 tại tỉnh Quảng Trị. Nơi thường trú: Khu phố E, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nơi ở hiện tại: Hẻm A P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự lo; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn H1 và bà Trần Thị Thu T2; có vợ là Nguyễn Tuyết L1 và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 15/12/2023 và tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
  4. Bùi Thị L2, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1986 tại tỉnh Gia Lai. Nơi thường trú: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: Tổ A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M1 và bà Đỗ Thị T3; có chồng là Siu T4 (đã ly hôn) và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Cảnh H2, sinh năm 1981; địa chỉ: G P, tổ A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • Anh Hứa Thanh H3, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ F, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Anh Lại Châu V, sinh năm 2000; địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Anh Ksor B, sinh năm 1999; địa chỉ: Xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Anh Nay K1, sinh năm 2005; địa chỉ: Buôn N, xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị H4 Ê Ban, sinh năm 2001; địa chỉ: C S, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị Trương Thị Kim C, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị Hồ Thị H5, sinh năm 1998; địa chỉ: D đường A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Chị Phạm Thị L3, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn C, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Địch N, sinh năm 1973, địa chỉ: A L, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Ông Đoàn Văn H1, sinh năm 1974; địa chỉ: 1 P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lúc 22 giờ 15 phút, ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G bắt quả tang 03 (ba) cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 102, 103 và 104 của nhà nghỉ T5 (địa chỉ: số A L, tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai). Tại hai phòng 203 và 204 của nhà nghỉ đang có 02 (hai) khách mua dâm ở, chờ gái bán dâm đến và 01 (một) gái bán dâm đã đến ở sân nhà của nhà nghỉ để bán dâm cho khách.

Qua điều tra, xác định được như sau: Nhà nghỉ T5 được ông Đoàn Văn H1 (sinh năm: 1974, trú: phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) thuê lại của Nguyễn Địch N (sinh năm: 1973, trú: 146 đường L, tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai) và kinh doanh trong lĩnh vực cho thuê lưu trú (được Phòng Tài chính Kế hoạch Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 39A8020035 ngày 08/3/2022 và Công an thành phố P cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 193/BCG ngày 12/4/2022 cho hộ kinh doanh Đoàn Văn H1).

Từ tháng 6/2022, Hà Thị L thuê lại nhà nghỉ T5 từ ông Đoàn Văn H1 với giá 15.000.000 đồng/tháng, L trực tiếp quản lý, điều hành trong lĩnh vực cho thuê lưu trú. Khoảng tháng 3/2023, L thuê Bùi Công K làm nhân viên lễ tân, quản lý nhà nghỉ với mức lương 7.000.000 đồng/tháng, bao gồm ăn, ở tại nhà nghỉ. Lúc này, L không trực tiếp làm quản lý nhà nghỉ mà về nhà trọ kinh doanh bán hàng trực tuyến, thỉnh thoảng qua nhà nghỉ để kiểm tra và phụ giúp K khi cần.

Khoảng tháng 10/2023, L sử dụng nhà nghỉ vào hoạt động chứa mại dâm nhằm thu lợi bất chính. K biết L chứa mại dâm tại nhà nghỉ nhưng vẫn đồng ý làm thuê cho L và cùng L thực hiện hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ. Thời gian đầu, L trực tiếp quản lý việc chứa mại dâm tại nhà nghỉ, sau khi K quen việc, L giao lại việc chứa mại dâm cho K quản lý. Khi khách có nhu cầu mua dâm, K thỏa thuận giá mua dâm là 200.000 đồng/01 lần/30 phút, nếu mua dâm qua đêm là 800.000 đồng/01 đêm, việc mua bán dâm được thực hiện ngay tại các phòng của nhà nghỉ, khách có thể thanh toán tiền trước hoặc sau khi mua dâm xong, K là người trực tiếp lấy tiền từ khách mua dâm. Nếu khách đồng ý, K bố trí phòng cho khách, dùng điện thoại của nhà nghỉ số 0975.989.400 gọi cho gái bán dâm đến nhà nghỉ bán dâm cho khách (số điện thoại của gái bán dâm do họ tự đến nhà nghỉ cung cấp). Số tiền mua bán dâm được chia như sau: Đối với khách mua dâm 200.000 đồng/01 lần/30 phút, gái bán dâm được hưởng 100.000 đồng, nhà nghỉ được hưởng 100.000 đồng; đối với khách mua dâm qua đêm 800.000 đồng/01 đêm, gái bán dâm được hưởng 500.000 đồng, nhà nghỉ được hưởng 300.000 đồng. Hằng ngày, K trực tiếp quản lý công việc kinh doanh, chứa mại dâm của nhà nghỉ, còn L đến để dọn dẹp, nấu ăn.

Đến ngày 28/11/2023, L thuê Đoàn Văn D1 làm nhân viên dọn dẹp vệ sinh phòng trọ, gác cổng với mức lương 6.000.000 đồng/tháng. D1 biết LK chứa chấp mua bán dâm tại nhà nghỉ, được L giao dọn dẹp vệ sinh các phòng trọ, canh gác cổng ra vào, khi có khách đến mua dâm thì mở cửa, hướng dẫn đến quầy lễ tân, đóng lại ngay và ngồi cảnh giới lực lượng chức năng, khi nào K bận thì D1 là người gọi gái bán dâm đến cho khách.

Nhà nghỉ mở cửa đón khách mua dâm từ khoảng 08 giờ đến khoảng 02 giờ sáng ngày hôm sau thì đóng cửa. Trung bình 01 ngày có từ 05-10 lượt khách đến mua dâm và K đều báo cho L biết lượng khách mua dâm hằng ngày. Tiền thu được từ hoạt động chứa mại dâm K giữ và đưa lại cho Lệ theo ngày hoặc 02-03 ngày/01 lần, tùy thuộc vào số lượt khách nhiều hay ít. Hoặc, K nạp tiền vào tài khoản của mình số 1035731364 (Ngân hàng thương mại cổ phần N2) rồi chuyển cho L vào tài khoản số 6200644489 (tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ) và tài khoản số 5018205040802 (tại Ngân hàng N3). Thu nhập bình quân của nhà nghỉ 01 ngày khoảng 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tổng thu nhập 01 tháng từ việc chứa mại dâm là khoảng 15.000.000 đồng. Từ tháng 10/2023 đến ngày 15/12/2023, số tiền thu lợi bất chính từ hoạt động chứa mại dâm tại nhà nghỉ T5 khoảng 45.000.000 đồng.

Trong ngày 15/12/2023, có nhiều khách đến nhà nghỉ để mua dâm từ khoảng hơn 08 giờ sáng cho đến tối. Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, có 05 người đàn ông đến nhà nghỉ mua dâm, gồm:

  • + Nguyễn Cảnh H2 (sinh năm: 1981, trú: 709 P, tổ A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai) được K bố trí ở phòng 102 và chưa thu tiền. Sau đó, K gọi Phạm Thị L3 (sinh năm: 1985, trú: nhà nghỉ B2, thôn C, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đến bán dâm cho khách. Khi cả hai đang chuẩn bị quan hệ tình dục với nhau thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G phát hiện, bắt quả tang.
  • + Hứa Thanh H3 (sinh năm: 2000, trú: tổ F, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai) được K bố trí ở phòng 104, H3 đưa K số tiền 250.000 đồng. Sau đó, K dùng điện thoại gọi vào số 0905.244.xxx của Bùi Thị L2, rồi L2 gọi cho H’ Oanh Ê ban (tên gọi khác là N1, sinh năm: 2001, trú: 33 S, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đến bám dâm cho khách. Khi H3 và H’Oanh Ê B1 đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G phát hiện, bắt quả tang.
  • + Lại Châu V (sinh năm: 2000, trú: làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai) được K bố trí ở phòng 103 và V đưa cho K số tiền 300.000 đồng. Sau đó K sử dụng điện thoại gọi cho Hồ Thị H5 (sinh năm: 1998, trú: 46A đường A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đến bán dâm cho khách. Khi VH5 đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G phát hiện, bắt quả tang.
  • + Ksor B (sinh năm: 1999, trú: xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai) và Nay K1 (sinh năm 2005, trú: xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai) được K bố trí tại phòng 203, 204 và chưa thu tiền. Sau đó, K sử dụng điện thoại gọi cho Trương Thị Kim C (sinh năm: 1993, trú: tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đến bán dâm cho khách ở phòng 203 và đang gọi cho gái bán dâm cho khách 204. Khi C đến trong sân của nhà nghỉ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G phát hiện, bắt quả tang.

Tối ngày 15/12/2023, L mở điện thoại xem hình ảnh thông qua camera của nhà nghỉ trên ứng dụng và thấy Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ nên đã bỏ trốn lên tỉnh Kon Tum. Ngày 17/12/2023, L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngày 16/12/2023, Bùi Thị L2 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G khai nhận: do quen biết với H4 Ê Ban, từ khoảng tháng 11/2023 H’Oanh Ê Ban có nhu cầu bán dâm nên đưa số điện thoại 0905.244.xxx của Bùi Thị L2 cho Bùi Công K để liên hệ khi có khách mua dâm và nhờ L2 gọi cho H’Oanh Ê Ban mỗi khi K gọi đi bán dâm thì L2 đồng ý. Ngày 15/12/2023, L2 đã 02 (hai) lần gọi H'Oanh Ê Ban đi bán dâm (vào lúc 19h50' và 21h20', cả 02 lần H'Oanh Ê Ban đã đến nhà nghỉ để bán dâm cho 03 lượt khách) và từ tháng 11/2023 đến ngày 15/12/2023, L2 đã nhiều nhận cuộc gọi từ nhà nghỉ T5 rồi báo lại cho H4 Ê Ban để đi bán dâm.

Những gái bán dâm gồm: Phạm Thị L3, H’Oanh Ê Ban, Trương Thị Kim CHồ Thị H5 đều khai nhận đã nhiều lần đến nhà nghỉ T5 bán dâm cho khách. Ngày 14/12/2023, Phạm Thị L3 02 (hai) lần bán dâm tại nhà nghỉ T5. Ngày 15/12/2023, Phạm Thị L3 đã bán dâm 02 (hai) lần, Hồ Thị H5 bán dâm 03 (ba) lần, Trương Thị Kim C bán dâm 02 (hai) lần, tất cả đều tại nhà nghỉ T5.

* Vật chứng thu giữ:

Khi Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ T5 đã thu giữ các đồ vật sau:

  • - Thu trên người Bùi Công K số tiền 5.280.000đ (Năm triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng); 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh imei 1: 352880104539134, Imei 2: 352880105539133, bên trong có sim thuê bao số: 0975.989.400; 01 (một) Điện thoại di động hiệu N4 màu đen, Imei 1: 353148111948998, Imei 2: 353148116948993; 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen, Imei: 358209599582288.
  • - Thu giữ trên người Đoàn Văn D1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số máy: MN562LL/A.
  • - Thu giữ 04 vỏ bao cao su và 01 bao cao su đã qua sử dụng dưới nền nhà phòng 102.
  • - Thu giữ 02 vỏ bao cao su và 01 bao cao su đã qua sử dụng trên nền nhà phòng 103.
  • - Thu giữ 01 vỏ bao cao su và 01 bao cao su đã qua sử dụng trên nền nhà phòng 104.
  • - Thu 01 đầu ghi (bộ nhớ) dữ liệu Camera an ninh lắp đặt tại quán có mã vạch số 4G0527EPAZ09A82.

Tại Cáo trạng số 116/CT-VKS-P2 ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Hà Thị L, Bùi Công K, Đoàn Văn D1 về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Bùi Thị L2 về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự

2. Diễn biến phiên tòa:

  • - Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hà Thị L, Bùi Công K, Đoàn Văn D1 phạm tội “Chứa mại dâm”; bị cáo Bùi Thị L2 phạm tội “Môi giới mại dâm”

Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hà Thị L từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Công K từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.

Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn D1 từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 328; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Thị L2 từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách tương ứng.

Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo L.

Về vật chứng:

  • - Số tiền 5.280.000 đồng, gồm tiền riêng của bị cáo Bùi Công K 3.000.000 đồng trả cho bị cáo K; tiền thu do kinh doanh nhà nghỉ 1.730.000 đồng trừ vào khoản tiền thu lợi của bị cáo L theo yêu cầu của bị cáo; tiền thu của người mua dâm 550.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 25.000.000 đồng do bị cáo Hà Thị L nộp tiền thu lợi bất chính; 04 Điện thoại di động là phương tiện phạm tội của các bị cáo; 01 đầu ghi (bộ nhớ) dữ liệu Camera an ninh lắp đặt tại quán.
  • - Tịch thu tiêu hủy: vỏ bao cao su và bao cao su đã qua sử dụng;.

Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Cảnh H2 xác nhận nội dung vụ án như Cáo trạng của Viện kiểm sát được công bố tại phiên toà và việc anh bị bắt quả tang khi đến mua dâm lúc 22 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, tại nhà nghỉ T5, số A L, tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai là đúng sự thật. Anh đã thấy sai và sẽ sửa chữa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều ra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khẳng định:

Vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, tại nhà nghỉ T5, số A L, tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G bắt quả tang có 05 người đàn ông mua dâm và 04 gái bán dâm đang và chuẩn bị bán dâm cho 4 người đàn ông tại 04 phòng và 01 người đang chờ gái bán dâm đến. Kết quả điều tra xác định:

  • * Đối với hành vi chứa mại dâm: Bị cáo Hà Thị L đã thuê nhà nghỉ T5 để kinh doanh trong lĩnh vực cho thuê lưu trú, bị cáo thuê Bùi Công KĐoàn Văn D1 là nhân viên quản lý và phục vụ tại nhà nghỉ giúp bị cáo và nhận lương tháng. Từ tháng 10/2023 sau khi sinh con thứ 6, do túng thiếu nên bị cáo đã thực hiện việc chứa mại dâm tại nhà nghỉ để thu lợi. Các bị cáo K, D1 biết rõ nhưng vẫn giúp cho bị cáo trong việc thu tiền, gọi gái bán dâm, canh gác... đến ngày 15/12/2023 thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.
  • * Đối với hành vi môi giới mại dâm: Bị cáo Bùi Thị L2 biết rõ H’Oanh Ê Ban là gái bán dâm, biết H’Oanh Ê Ban cung cấp số điện thoại của bị cáo cho nhà nghỉ để khi nhà nghỉ gọi điện thì bị cáo thông báo cho H4 Ê Ban đến bán dâm cho khách, do H'Oanh Ê Ban không muốn bạn trai biết việc đi bán dâm nên nhờ bị cáo gọi giúp. Từ tháng 11/2023, bị cáo nhiều lần nhận cuộc gọi từ nhà nghỉ và thông báo cho H’Oanh Ê Ban đến bán dâm. Riêng ngày 15/12/2023, bị cáo đã 02 lần nhận điện thoại từ K (vào lúc 19h50' và 21h20') và 02 lần gọi H’Oanh Ê Ban đến bán dâm. Khi H’Oanh Ê Ban đang bán dâm lần thứ hai thì bị bắt quả tang.

Với các hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo Hà Thị L, Bùi Công KĐoàn Văn D1 về tội “Chứa mại dâm” với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” và “chứa mại dâm 04 người trở lên” theo điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Bùi Thị L2 về tội “Môi giới mại dâm” với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm d khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo Hà Thị L, Bùi Công KĐoàn Văn D1 thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Thị L2 thuộc trường hợp nghiêm trọng. Xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm đến đạo đức xã hội, thuần phong, mỹ tục, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an.

Bị cáo L là người khởi xướng, điều hành và thu lợi từ hoạt động chứa mại dâm nên giữ vai trò chính; bị cáo K, D1 đều được bị cáo L thuê và trả công hàng tháng nên giữ vai trò giúp sức cho bị cáo L và đều là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo K có thời gian làm lâu hơn, là người quản lý, nhận khách mua dâm, gọi gái bán dâm, thu tiền còn bị cáo D1 mới vào làm thời gian ngắn, chủ yếu là dọn dẹp, canh gác cơ quan chức năng, thỉnh thoảng có nhận khách mua dâm và gọi gái bán dâm giúp cho K nên vai trò của bị cáo K giúp sức tích cực hơn bị cáo D1. Bị cáo L2 chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của mình và không đồng phạm với các bị cáo khác.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội nhiều lần đã áp dụng tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nên không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Bùi Thị L2Hà Thị L đã được xác nhận tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, trình báo tội phạm đang bị truy nã để bắt giữ; bà ngoại của các bị cáo là người có công với cách mạng, cha bị cáo L2 là bộ đội phục viên tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ Quốc tế sau ngày 30/4/1975; bị cáo L sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính nên các bị cáo L2L được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Công K có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng. Cần xử bị cáo L mức án cao nhất, bị cáo K thấp hơn bị cáo L và bị cáo D1 thấp hơn bị cáo K. Bị cáo L2 chịu hình phạt tương ứng và thấp hơn các bị cáo trên.

Xét bị cáo L và bị cáo L2 đều là phụ nữ lần đầu phạm tội, có đông con nhỏ, riêng bị cáo L có 06 con, con nhỏ nhất sinh năm 2023, đều được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử khoan hồng hơn đối với 02 bị cáo, áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, bị cáo K, D1 cũng được xem xét tương ứng với vai trò đồng phạm với bị cáo L.

Xét bị cáo L2 phạm tội nhiều lần, các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do có định khung tăng nặng nên bị xét xử thuộc trường hợp nghiêm trọng, phạm tội không vì động cơ thu lợi mà do cả nể, có chổ ở ổn định, có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo L có đông con nhỏ, trong vụ án này đã bị buộc nộp tiền thu lợi bất chính để sung Ngân sách nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Các bị cáo còn lại không có thu lợi hoặc chỉ làm công ăn lương nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về biện pháp tư pháp: Kết quả điều tra và bị cáo L xác nhận tổng số tiền thu lợi bất chính là 45.000.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo phải nộp để sung Ngân sách Nhà nước.

[6] Về vật chứng:

  • - Số tiền 5.280.000 đồng, bị cáo L và bị cáo K xác nhận: tiền riêng của bị cáo Bùi Công K 3.000.000 đồng nên trả cho bị cáo K; tiền thu do kinh doanh nhà nghỉ 1.730.000 đồng nên được khấu trừ vào tiền thu lợi bất chính phải nộp của bị cáo L theo yêu cầu của bị cáo; tiền thu của người mua dâm 550.000 đồng nên sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 25.000.000 đồng bị cáo L nộp một phần tiền thu lợi bất chính nên được khấu trừ vào tiền thu lợi bất chính phải nộp của bị cáo
  • - Đối với 04 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo và 01 đầu ghi (bộ nhớ) dữ liệu Camera an ninh lắp đặt tại quán là phương tiện để các bị cáo liên lạc, quan sát thực hiệsn hành vi phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách.
  • - Đối với 07 vỏ bao cao su; 03 bao cao su đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác: Đã được nêu rõ trong kết luận điều tra và cáo trạng, tại phiên toà không phát sinh vấn đề gì mới nên Hội đồng xét xử không kiến nghị gì thêm. Khi có vấn đề phát sinh sẽ được xem xét, giải quyết trong vụ án khác.

[8] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Thị L, Bùi Công KĐoàn Văn D1 phạm tội “Chứa mại dâm”; bị cáo Bùi Thị L2 phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Hà Thị L 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
    • - Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Bùi Công K 3 (ba) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.
    • - Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Đoàn Văn D1 3 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.
    • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 328; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Bùi Thị L2 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/9/2024).

    Giao bị cáo Bùi Thị L2 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

  3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự:

    Truy thu bị cáo Hà Thị L 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước.

  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • * Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:
      • - 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh Imei 1: 352880104539134, Imei 2: 352880105539133, bên trong có chứa sim thuê bao số: 0975.989.400 (Pin điện thoại bị phồng, không lắp được nắp);
      • - 01 (một) Điện thoại di động hiệu N4 màu đen, Imei 1: 353148111948998, Imei 2: 353148116948993;
      • - 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen, Imei: 358209599682288;
      • - 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số máy: MN562LL/A.
      • - 01 (Một) Đầu ghi (bộ nhớ) dữ liệu Camera an ninh lắp đặt tại quán có mã vạch số 4G0527EPAZ09A82.
    • * Số tiền 5.280.000 đồng (Năm triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng): Trả cho bị cáo Bùi Công K 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); 1.730.000 đồng (Một triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) khấu trừ tiền thu lợi bất chính phải nộp của bị cáo Hà Thị L; Sung Ngân sách Nhà nước 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).
    • * Số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) khấu trừ tiền thu lợi bất chính phải nộp của bị cáo Hà Thị L.
    • * Tịch thu tiêu hủy: 07 (Bảy) vỏ bao cao su và 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng.

    Vật trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 136/2024 lập ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc các bị cáo Hà Thị L, Bùi Công K, Đoàn Văn D1Bùi Thị L2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

  6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND cấp cao;
  • - TAND cấp cao;
  • - Viện KSND tỉnh Gia lai;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
  • - VP CQCSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Cục THADS tỉnh Gia Lai;
  • - Trại tam giam T20;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Tòa HS, VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm về tội chứa mại dâm và môi giới mại dâm

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Hà Thị L, Bùi Công K và Đoàn Văn D1 phạm tội “Chứa mại dâm”; bị cáo Bùi Thị L2 phạm tội “Môi giới mại dâm”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger