Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày 18/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Dũng và bà Phạm Thị Bích Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều N - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 29/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/HSST-QĐ ngày 11/9/2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Ngọc L, sinh ngày 29/01/1997;

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Hữu L1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Mai N1, sinh năm 1979; Chồng: Không; Có 01 con, sinh năm 2017.

- Tiền án: Không;

- Tiền sự:

  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50 ngày 24/9/2022, Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T xử phạt 1.500.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (L chưa nộp phạt).
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1124 ngày 07/9/2023, Công an phường T, thành phố T xử phạt 1.750.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (L chưa nộp phạt).

- Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2527 ngày 16/8/2020, Công an phường T, thành phố T xử phạt 500.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2. Vũ Phúc S, sinh ngày 31/3/2004;

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; con ông Vũ Tiến C, sinh năm 1967 và bà Lê Thị T, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Không;

- Tiền sự:

  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 936 ngày 24/11/2022, Công an phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.750.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (S chưa nộp phạt).
  • + Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn S ngày 01/02/2023 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (thời hạn 03 tháng từ ngày 01/02/2023 - S đã chấp hành xong ngày 01/5/2023).

- Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 384 ngày 16/9/2022, Công an phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (chấp hành xong ngày 17/10/2022).

* Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/03/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1986
  • Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • Tạm trú: Tổ dân phố C, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
  • + Anh Trần Việt T1, sinh năm 1985
  • Nơi cư trú: Thôn F, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1992
  • Nơi cư trú: Tổ dân phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc L, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang là người sử dụng trái phép chất ma túy, do không có việc làm nên L nảy sinh ý định đi mua ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 14 giờ ngày 03/3/2024, L đi xe khách từ thành phố T đến Bến xe khách M, thành phố Hà Nội để tìm mua ma tuý. Tại đây, L gặp và mua được của một người đàn ông (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 túi ni lông bên trong chứa ma tuý (Methamphetamine) với giá 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, L đi xe khách về nhà tại thành phố T và cất giấu ma tuý trong phòng ngủ. Sáng ngày 04/3/2024, L lấy một phần ma tuý trong túi ni lông ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể rồi chia số ma tuý còn lại ra thành 13 túi nhỏ mục đích để bán kiếm lời. Trong thời gian từ ngày 04/3/2024 đến ngày 05/3/2024 L đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 04/3/2024, L sử dụng số điện thoại 0395.711.xxx gọi đến số điện thoại 0329.697.xxx của Nguyễn Thị C1, trú tại tổ dân phố A, phường N, thành phố T nói vừa đi Hà Nội về và có ma tuý (Methamphetamine) bán. Chiêm hỏi mua 400.000₫ ma tuý và hẹn L giao ma tuý tại khu vực gần cổng Đền C2. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, L đi xe taxi (không xác định được hãng và tên người lái xe) đến nơi hẹn rồi bán cho C1 01 túi ni lông bên trong chứa ma tuý. Sau khi lấy được ma tuý, C1 về phòng trọ chuyển khoản số tiền 400.000đ từ số tài khoản 0329697426 mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M) mang tên Nguyễn Thị C1 đến số tài khoản 38901038922222 mở tại ngân hàng M mang tên Trần Ngọc L. Số ma túy mua được Chiêm một mình sử dụng hết bằng hình thức đốt hít vào cơ thể.

Lần 2: Khoảng 11 giờ ngày 05/3/2024, Nguyễn Tuấn A, trú tại tổ dân phố I, phường T, thành phố T nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho L để hỏi mua 400.000₫ ma tuý (Methamphetamine), L đồng ý và bảo Tuấn A chuyển tiền trước, Tuấn A chuyển tiền từ số tài khoản 2222222256789 mở tại ngân hàng M mang tên Nguyễn Tuấn A đến số tài khoản 38901038922222 của L. Sau khi nhận được tiền, L hẹn Tuấn A đến khu vực đầu ngõ nhà L thuộc tổ dân phố A, phường T để lấy ma tuý. Sau đó, Tuấn A đi xe taxi đến nơi hẹn, L đi bộ ra đưa cho Tuấn A 01 túi ni lông chứa ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, Tuấn A đi xe taxi về nhà và một mình sử dụng hết số ma tuý vừa mua được bằng hình thức đốt hít vào cơ thể.

Lần 3: Khoảng 13 giờ ngày 05/3/2024, Trần Việt T1, trú tại thôn F, xã L, thành phố T nhắn tin, gọi điện qua ứng dụng Messenger cho L để hỏi mua 800.000₫ ma tuý (Methamphetamine), L đồng ý và bảo Trung chuyển tiền trước. Sau đó, T1 gặp và nhờ Trần Thị Phương T2, trú tại thôn E, xã L, thành phố T chuyển giúp số tiền 800.000đ từ số tài khoản 107880202666 mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần C3 (V) mang tên Trần Thị Phương T2 đến số tài khoản 38901038922222 của L (T2 không quen biết T1, không biết mục đích T1 nhờ chuyển tiền để mua ma túy). Sau khi nhận được tiền, L hẹn T1 đến khu vực đầu ngõ nhà L thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố T để lấy ma tuý. T1 đi xe ôm đến nơi hẹn gặp L lấy 01 túi ni lông bên trong chứa ma tuý. Sau đó T1 đi xe ôm về nhà và một mình sử dụng hết số ma tuý mua được bằng hình thức đốt hít vào cơ thể.

Lần 4: Khoảng 15 giờ ngày 05/3/2024, Trần Việt T1 tiếp tục liên hệ qua ứng dụng Messenger hỏi mua của L 500.000₫ ma tuý (Methamphetamine), L đồng ý. Sau đó, T1 gặp và nhờ Trần Trung H, trú tại thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang chuyển giúp số tiền 500.000đ từ số tài khoản 102880810942 mở tại ngân hàng V mang tên Trần Trung H đến số tài khoản 38901038922222 của L (H không quen biết T1, không biết mục đích T1 nhờ chuyển tiền để mua ma túy). Nhận được tiền, L lấy 01 túi ni lông bên trong chứa ma tuý rồi gói ngoài bằng tờ giấy ăn màu trắng và đi bộ ra để ở dưới chân cột biển báo giao thông gần nhà L thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố T, chụp ảnh rồi gửi vị trí cho T1 đến lấy. T1 đi xe ôm đến vị trí L để ma tuý và lấy được 01 gói ma tuý. Sau khi lấy được ma tuý, T1 đi xe ôm về nhà và và một mình sử dụng hết số ma tuý mua được bằng hình thức đốt hít vào cơ thể.

Lần 5: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, tại khu vực nhà V, phường T, thành phố T, Trần Ngọc L bán cho Vũ Phúc S, trú tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T 01 gói ma tuý (Methamphetamine) có khối lượng 0,180g (Không phẩy một tám không gam) với giá 450.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ.

Ngoài ra Trần Ngọc L đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,674g (Hai phẩy sáu bảy bốn gam) ma túy (Methamphetamine) mục đích để bán nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện.

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, tại khu vực nhà V, phường T, thành phố T, Vũ Phúc S trú tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,180g (Không phẩy một tám không gam) Methamphetamine (mua của Trần Ngọc L) mục đích để sử dụng.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo Trần Ngọc L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Vũ Phúc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Ngọc L và bị cáo Vũ Phúc S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự trong khi lượng hình.

[5] Về hình phạt: Các bị cáo Trần Ngọc LVũ Phúc S đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố T. Do vậy, cần phải đưa ra xét xử nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Trần Ngọc LVũ Phúc S không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Phúc S và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Ngọc L như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[7] Về vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) phong bì giấy còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Trần Ngọc L giám định ngày 05/3/2024". Mặt sau tại mép dán có chữ ký của Trần Ngọc L cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa 2,574g ma túy Methamphetamine (số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định); 01 (một) phong bì giấy còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Vũ Phúc S giám định ngày 05/3/2024". Mặt sau tại mép dán có chữ ký của Vũ Phúc S cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa 0,130g ma túy Methamphetamine (số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định); 01 (một) bộ đồ sử dụng ma tuý gồm: 01 (Một) chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh, trên nắp đục hai lỗ được gắn với một ống hút nhựa màu trắng và một ống thuỷ tinh màu trắng và 01 sim điện thoại có dãy số 8984 04800 03318 03354;

Xét thấy, đối với khối lượng ma túy còn lại (sau khi giám định) và các đồ vật đã thu giữ của các bị cáo được niêm phong theo quy định là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và các đồ vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

  • + Đối với 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung A32, số IMEI (K): 355870667363037, số IMEI (K): 357848357363036 (thu giữ của Trần Ngọc L); 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, loại màn hình cảm ứng, số IMEI 358611075075681 (thu giữ của Vũ Phúc S), Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà nước do liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
  • + Đối với tiền Ngân hàng N2 450.000 đồng (thu giữ của Trần Ngọc L). Xét thấy đây là số tiền do bị cáo Trần Ngọc L phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • + Đối với số tiền 2.100.000 đồng Trần Ngọc L hưởng lợi từ việc bán trái phép chất ma túy, cần truy thu của bị cáo L để sung quỹ nhà nước.

[8] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Trần Ngọc L do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra làm rõ trong vụ án. Đối với Trần Thị Phương T2 - chủ tài khoản ngân hàng V số [...] và Trần Trung H - chủ tài khoản ngân hàng V số [...] được Trần Việt T1 nhờ chuyển tiền vào số tài khoản của Trần Ngọc L, T2H không biết số tiền chuyển giúp T1 để mua ma túy nên không xem xét xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Ngọc L, Nguyễn Thị C1, Trần Việt T1, ngày 12/3/2024 và 20/3/2024, Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21, 22, 28, hình thức phạt cảnh cáo. Xét thấy đã phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Các bị cáo Trần Ngọc L, Vũ Phúc S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc L 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/3/2024.

  2. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

    Tuyên bố: Bị cáo Vũ Phúc S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Phúc S 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/3/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    - Tịch thu tiêu hủy:

    • + Một phong bì giấy còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Trần Ngọc L giám định ngày 05/3/2024". Mặt sau tại mép dán có chữ ký của Trần Ngọc L cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa 2,574g ma túy Methamphetamine (số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định).
    • + Một phong bì giấy còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Vũ Phúc S giám định ngày 05/3/2024". Mặt sau tại mép dán có chữ ký của Vũ Phúc S cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa 0,130g ma túy Methamphetamine (số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định).
    • + 01 (Một) bộ đồ sử dụng ma tuý gồm: 01 (Một) chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh, trên nắp đục hai lỗ được gắn với một ống hút nhựa màu trắng và một ống thuỷ tinh màu trắng.
    • + 01 sim điện thoại có dãy số 8984 04800 03318 03354;

    - Tịch thu sung quỹ nhà nước:

    • + 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung A32, số IMEI (K): 355870667363037, số IMEI (K): 357848357363036 (thu giữ của Trần Ngọc L);
    • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, loại màn hình cảm ứng, số IMEI 358611075075681 (thu giữ của Vũ Phúc S).

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 26/7/2024).

    - Tịch thu sung quỹ nhà nước:

    Tiền Ngân hàng N2 450.000 đồng (thu giữ của Trần Ngọc L);

    (Số tiền trên đã được phòng tài chính kế hoạch thành phố T chuyển vào tài khoản số 39490106484800000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang thể hiện tại Ủy nhiệm chi số 07 ngày 18/9/2024).

    - Truy thu sung quỹ nhà nước:

    Số tiền 2.100.000₫ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) Trần Ngọc L hưởng lợi từ việc bán trái phép chất ma túy.

  4. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Các bị cáo Trần Ngọc LVũ Phúc S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Trần Ngọc LVũ Phúc S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND TP Tuyên Quang;
  • - Công an TP Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

Trần Thế Dũng Phạm Thị Bích Hường

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Linh, Vũ Phúc Sơn (Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger