Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Đức Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hoàng Việt;
  2. Ông Thạch Văn Mến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1986 (Có mặt); địa chỉ: Tổ 2, ấp L, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1981 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 08/4/2024, Bản tự khai ngày 28/3/2024 cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Huỳnh Thị T trình bày:

Năm 2018, chị T kết hôn cùng anh Nguyễn Thanh V; được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/12/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại ấp N, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu, chị T với anh V đã có 01 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Thanh T (Nam), sinh ngày 15/5/2019.

Do bất đồng quan điểm làm phát sinh mâu thuẫn, anh V thiếu trách nhiệm và có hành vi bạo lực gia đình nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng làm tình cảm phai nhạt, không còn hạnh phúc; từ năm 2021, chị T đã trở về ấp L, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Nay, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh V.

Về con chung: Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ chị Huỳnh Thị T giao nộp gồm: Bản sao Căn cước công dân của chị T; Giấy chứng nhận kết hôn của anh V với chị T; bản sao Giấy khai sinh của cháu T; Bản tự khai của chị T; Đơn yêu cầu không hòa giải theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Đơn yêu cầu hỗ trợ gửi bản sao tài liệu, chứng cứ.

- Đối với bị đơn là anh Nguyễn Thanh V: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo có thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh V không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Tòa án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh V đều vắng mặt không có lý do, anh V được tống đạt Thông báo kết quả phiên họp cũng như việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 06/9/2024, bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được là Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp của các đương sự và sức khỏe, tình hình phát triển của cháu T. Các đương sự không có ý kiến phản đối về tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp và do Tòa án thu thập được.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành triệu tập của Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị T được ly hôn với anh V; giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu T, anh V không phải cấp dưỡng cho con; không xem xét, giải quyết về tài sản và nợ chung do không có yêu cầu; quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Chị T yêu cầu ly hôn với anh V và giải quyết quyền nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung. Tranh chấp này được pháp luật điều chỉnh tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Thanh V được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung giải quyết:

- Căn cứ bản sao Căn cước công dân, Giấy chứng nhận kết hôn và bản sao Giấy khai sinh của con chung, việc không phản đối của anh V và kết quả xác minh của Tòa án; đối chiếu với quy định tại điểm c Khoản 1, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị T về kết hôn với anh V, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang và vợ chồng có 01 con chung là sự thật. Cho nên, chị T và anh V đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp quy định tại Khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của pháp luật; trong đó có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, từ năm 2021 đến nay, dù không có thỏa thuận khác và cũng không vì yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội nhưng chị T và anh V không sống chung, không cùng nhau chăm lo cho cháu T. Như vậy, chị T và anh V đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình; không còn thương yêu, tôn trọng nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị T ly hôn với anh V.

- Thời điểm xét xử vụ án, cháu Nguyễn Huỳnh Thanh T mới hơn 4 tuổi, được chị T một mình nuôi dưỡng từ khi không còn sống chung với anh V, vẫn đảm bảo phát triển bình thường về thể chất cũng như trí tuệ; chính quyền địa phương không nhận được bất cứ yêu cầu nào về hỗ trợ bảo vệ, chăm sóc cháu. Như vậy, chị T đã thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền của cha mẹ quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình.

Mặt khác, anh V cũng không phản đối yêu cầu được tiếp tục nuôi con của chị T; đồng thời, chị T có việc làm ổn định, thu nhập đảm bảo cuộc sống, không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con. Do đó, để đảm bảo mọi mặt được tốt hơn và tránh sự xáo trộn môi trường sống, sinh hoạt của cháu T; cần căn cứ Điều 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình để giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung; ghi nhận ý chí tự nguyện của chị T, về không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con.

- Nguyên đơn tiếp tục khẳng định không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị T chịu 300.000 đồng theo điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề là có căn cứ pháp lý, có cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên. Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh V.
  2. Về con chung: Giao cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Thanh T (Nam), sinh ngày 15/5/2019. Ghi nhận ý chí tự nguyện của chị T, anh V không phải cấp dưỡng cho cháu T. Trong thời gian chị T nuôi con, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung. Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu T, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nếu có căn cứ hợp pháp.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khẳng định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai số 0004141 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Chị Huỳnh Thị T có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Nguyễn Thanh V có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - UBND xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




CHU ĐỨC CHƯƠNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 99/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn, giao cho nguyên đơn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bị đơn không phải cấp dưỡng cho con.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger