TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 99/2024/DS-ST Ngày: 07/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Tuấn
- Bà Võ Tuyết Kha
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2024/TLST- DS ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 381/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp I, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1967 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1967. Cùng địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
(Ông T vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông B và bà T1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 03/9/2023 ông P ký hợp đồng mua bán lúa khô, lúa tươi với ông Trần Văn B và bà Lê Thị T1 thời gian từ ngày 20 đến ngày 25/12/2023 âm lịch với 1.266 công lúa, tổng số tiền ông P đặt cọc cho ông B, bà T1 là 410.000.000 đồng, đến khi giá lúa lên thì vợ chồng ông B, bà T1 không giao lúa theo hợp đồng mà chấp nhận vi phạm hợp đồng và đồng ý phạt cọc thêm số tiền 410.000.000 đồng, tổng số tiền cọc và tiền phạt cọc là 820.000.000 đồng. Sau khi chốt nợ ông B1, bà T1 đã trả cho ông P số tiền cọc là 410.000.000 đồng, còn tiền phạt cọc ký nợ lại và hẹn sẽ trả sau. Đến cuối năm 2023 ông B, Bà T1 có trả cho ông P 30.000.000 đồng tiền phạt cọc, còn nợ lại 380.000.000 đồng, nay ông P yêu cầu ông B, bà T1 có nghĩa vụ trả số tiền 380.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày cam kết là ngày 07/11/2023 âm lịch, tuy nhiên đến ngày 14/5/2024 ông P rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu tính lãi đối với số tiền 380.000.000 đồng. Ông P xác định số tiền đặt cọc là tài sản riêng của ông P.
* Bị đơn bà Lê Thị T1 trình bày:
Bà T1 thừa nhận có ký hợp đồng bán lúa tươi, lúa khô với ông P và có nhận tiền cọc của ông P là 410.000.000 đồng, bà T1 thừa nhận vi phạm hợp đồng giao lúa do giá lúa lên nên không có lúa giao cho ông P, đồng ý phạt cọc gấp đôi số tiên đã nhận cọc (tổng hai khoản tiền đặt cọc 410.000.000 đồng + tiền phạt cọc 410.000.000 đồng = 820.000.000 đồng), bà T1 đã trả lại cho ông P tiền đặt cọc 410.000.000 đồng, còn tiền phạt cọc 410.000.000 đồng đã trả được 30.000.000 đồng, hiện còn nợ ông P 380.000.000 đồng do hoàn cảnh quá khó khăn nên không còn khả năng trả thêm cho ông P, bà T1 xác định số tiền là nợ riêng của bà, không liên quan đến ông B là chồng bà.
* Bị đơn ông Trần Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, Toà án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của ông B nhưng ông không hợp tác, ông xác định không liên quan đến vụ án, nên không đồng ý trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với thời gian chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu tham gia phiên toà sơ thẩm là chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 328 Bộ Luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Trần Văn B và bà Lê Thị T1 có trách nhiệm trả cho ông P số tiền phạt cọc là 380.000.000đ. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ Luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử một phần khởi kiện về yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn.
- + Về án phí: Bị đơn chịu án phí dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ông P khởi kiện bị đơn trả nợ tiền phạt cọc mua lúa, bị đơn đang cư trú trên địa bàn huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ vào khoản 1 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Ông B và bà T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử nhưng vắng mặt, nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P: Ngày 03/9/2023 ông P ký hợp đồng mua bán lúa khô, lúa tươi với ông Trần Văn B và bà Lê Thị T1 từ ngày 20 đến ngày 25/12/2023 âm lịch là 1.266 công lúa tổng số tiền ông P đặt cọc cho ông B và bà tám là 410.000.000 đồng, khi giá lúa lên vợ chồng ông B và bà T1 không giao lúa theo hợp đồng mà chấp nhận vi phạm hợp đồng và đồng ý phạt cọc thêm số tiền 410.000.000 đồng, tổng số tiền cọc và phạt cọc là 820.000.000 đồng, bị đơn đã trả lại số tiền cọc 410.000.000 đồng cho nguyên đơn, tại giấy cam kết ngày 07/11/2023 ông B và bà T1 cam kết sẽ trả cho ông phúc tiền phạt cọc là 410.000.000 đồng và các bên cùng ký vào bản cam kết đến cuối năm 2023 sẽ trả xong, do các bên đã thừa nhận nợ tiền phạt cọc nên đây là tình tiết không phải chứng minh, phía nguyên đơn đã thực hiện trả nợ cho bị đơn số tiền 30.000.000 tiền phạt cọc còn lại không thực hiện việc trả tiền bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở.
Bà T1 xác định đây là nợ riêng của bà không liên quan đến ông B1, tuy nhiên việc thực hiện giao dịch đặt cọc mua bán thì ông P cùng thực hiện với ông B, bà T1, đồng thời tại bản cam kết ngày 07/11/2023 ông B, bà T1 đều ký tên xác nhận việc trả tiền phạt cọc. Ngoài ra ông B được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về việc ông P khởi kiện yêu cầu trả tiền phạt cọc nhưng ông B không có ý kiến phản đối yêu cầu của ông P, không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó cho thấy ông B đã thừa nhận nghĩa vụ của mình còn nợ tiền phạt cọc của ông P. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Từ đó, ông P yêu cầu ông B, bà T1 trả tiền phạt cọc là có cơ sở để chấp nhận.
Đối với yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn: Ngày 14/5/2024 ông P rút một phần yêu cầu khởi kiện về tính lãi đối với bị đơn, xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên là tự nguyện, nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu tính lãi của ông P đối với ông B và bà T1.
[4] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Buộc ông B và bà T1 phải chịu án phí dân sự theo quy định. Hoàn trả toàn bộ án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các 1 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ Luật tố tụng dân 2015;
Áp dụng vào các Điều 328, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Nguyễn Hoàng P. Buộc ông Trần Văn B và bà Lê Thị T1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hoàng P 380.000.000 đồng (ba trăm tám mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất của ông P đối với ông B và bà T1.
- Về án phí: Buộc ông Trần Văn B và bà Lê Thị T1 chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Hoàng P đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí 10.200.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006650 ngày 23/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được nhận lại.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì
thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đẹp |
Bản án số 99/2024/DS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 99/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
