TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân, ông Nguyễn Thái Linh.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 126/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 101/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lương Mạnh H, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn A T, tái định cư xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- Bị đơn: Chị Lê Thị Huyền T, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn A T, tái định cư xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ. Vắng mặt
Hiện nay chị T đang lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ, nhưng không có địa chỉ cụ thể.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, anh Lương Mạnh H bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị T sau quá trình tự tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh năm 2012. Sau khi kết hôn anh H và chị T chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến thời điểm tháng 12 năm 2023 sau khi chị T đi lao động tại nước ngoài thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng xa cách nhau, tính cách chị T thay đổi không còn quan tâm gia đình, con cái, điều này làm cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc mâu thuẫn gia đình ngày càng trở nên trầm trọng. Mặc dù cả hai đã hàn gắn nhưng không thành, vợ chồng chính thức không còn liên lạc với nhau. Nay anh H nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh H xin ly hôn với chị T.
- Về con chung: Anh H và chị T có 01 con chung tên Lương Thiện Thiên Â, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2018, hiện nay con chung đang sống cùng anh H. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị Huyền T do đang lao động ở Cộng hòa Liên bang Đ nên không có mặt để làm việc với Tòa án. Tại buổi làm việc ngày 15/7/2024, tại nhà bà Lê Thị T1; địa chỉ: Thôn A T, tái định cư xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh là mẹ đẻ của chị Lê Thị Huyền T, với sự chứng kiến của chính quyền địa phương xã K, đại diện Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Bà T1 đã gọi điện trực tiếp bằng hình ảnh cho chị T để chị T trình bày quan điểm của mình để Tòa án lập biên bản, cụ thể: Về nội dung các yêu cầu khởi kiện của anh H và các văn bản thông báo của Tòa án, thông qua các cuộc gọi với gia đình, chị T đã nắm bắt được đầy đủ. Hiện tại, do đang làm việc ở nước ngoài nên chị T không thể về tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án. Chị T thống nhất ủy quyền mẹ đẻ là bà Lê Thị T1 trực tiếp giao nhận các văn bản, tài liệu của Tòa án và thông báo lại cho chị T biết. Quan điểm của chị T về yêu cầu khởi kiện của anh H như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T thống nhất như trình bày của anh H về quá trình kết hôn. Nay anh H yêu cầu ly hôn, chị T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh H.
- Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung tên Lương Thiện Thiên Â, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2018, hiện nay con chung đang sống cùng anh H. Khi ly hôn chị T đồng ý giao con chung cho anh H nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lương Mạnh H.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lương Mạnh H được ly hôn chị Lê Thị Huyền T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Thiện Thiên Â, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2018 cho anh Lương Mạnh H tiếp tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con thành niên và lao động được. Anh H không yêu cầu nên chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Lê Thị Huyền T hiện đang lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ, không có địa chỉ cụ thể. Tại văn bản số 627/PA08-Đ1 ngày 02/7/2024 của phòng PA08 Công an tỉnh H thể hiện: Chị Lê Thị Huyền T, sinh năm 1989; địa chỉ: Xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 15/12/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án, yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Qua biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2024 người thân của bị đơn không cung cấp được địa chỉ tại nước ngoài của bị đơn. Tại cuộc gọi trực tuyến kết nối với bị đơn và có lập biên bản ngày 15/7/2024, thông qua cuộc gọi trực tuyến bị đơn có ý kiến hiện nay đang lao động tự do tại Cộng hoà liên bang Đ và không có địa chỉ cụ thể. Bị đơn không thể về nước để tham gia giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Thị Huyền T theo quy định.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Anh H và chị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2012 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện K cấp ngày 21/11/2012 nên hôn nhân giữa anh H và chị T là hôn nhân hợp pháp. Anh H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do chị T đi lao động tại nước ngoài nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng xa cách nhau, tính cách chị T thay đổi không còn quan tâm gia đình, con cái, điều này làm cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc mâu thuẫn gia đình ngày càng trở nên trầm trọng. Mặc dù cả hai đã hàn gắn nhưng không thành, vợ chồng chính thức không còn liên lạc với nhau. Đối với yêu cầu ly hôn của anh H, chị T đồng ý ly hôn.
Anh H và chị T là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Anh H và chị T xảy ra mâu thuẫn, anh H và chị T đã hàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho anh H được ly hôn với chị T.
[2.2] Về con chung: Anh H và chị T có 01 con chung tên Lương Thiện Thiên Â, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2018, hiện nay con chung đang sống cùng anh H. Theo nguyện vọng của anh H và chị T cũng như để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu cần giao cháu Lương Thiện Thiên  cho anh Lương Mạnh H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu nên chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lương Mạnh H, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lương Mạnh H được ly hôn chị Lê Thị Huyền T.
2. Về con chung: Giao cháu Lương Thiện Thiên Â, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2018 cho anh Lương Mạnh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên và lao động được. Anh H không yêu cầu nên chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh H và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho chị T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Lương Mạnh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai số 000916 ngày 26/6/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 99/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Hổ và chị Trang sau quá trình tự tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh năm 2012. Sau khi kết hôn anh Hổ và chị Trang chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến thời điểm tháng 12 năm 2023 sau khi chị Trang đi lao động tại nước ngoài thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng xa cách nhau, tính cách chị Trang thay đổi không còn quan tâm gia đình, con cái, điều này làm cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc mâu thuẫn gia đình ngày càng trở nên trầm trọng. Mặc dù cả hai đã hàn gắn nhưng không thành, vợ chồng chính thức không còn liên lạc với nhau. Nay anh Hổ nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Hổ xin ly hôn với chị Trang.
