|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số:99/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Kim Dung – Giáo viên nghỉ hưu
- Ông Lê Văn Dũng – Cán bộ hưu trí
Thư ký phiên toà: Bà Kiều Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Hường Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Phạm Hải L, sinh ngày 14/01/2002, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L1 và bà Phan Hồng P; chồng: Ngô Đức H; con: Có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023 cho đến nay (có mặt).
- Hoàng Anh H1, sinh ngày 08/9/1988, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H2 (Đã chết) và bà Tô Thị M; vợ: Nguyễn Thị H3, con: có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2011/HSST ngày 09/8/2011,Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Hoàng Anh H1 10 năm tù về tội “Giết người”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 614/2011/HSPT ngày 27/10/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt Hoàng Anh H1 08 năm tù về tội “Giết người”. Ngày 31/8/2015, H1 chấp hành xong toàn bộ hình phạt.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HSST ngày 04/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Hoàng Anh H1 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 22/9/2017 bị cáo chấp hành xong toàn bộ hình phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, (có mặt).
- Đỗ Anh T, sinh ngày 12/02/2008, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố N, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Q và bà Nguyễn Thị H4; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023, đến nay (có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Anh T: Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Anh T: Bà Trần Thị N – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp luật Nhà nước tỉnh V, (có mặt).
Người có liên quan trong vụ án bị triệu tập:
- Phan Anh T1, sinh ngày 02/3/2006; trú tại: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nguyễn Quỳnh A, sinh năm 2004, trú tại: Thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
- Bùi Ngọc A1, sinh năm 2002, trú tại: Tổ H, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
- Nguyễn Minh H5, sinh năm 1993, trú tại : Tổ A, phường M, thành phố Y.
- Nguyễn Thị Trà M1, sinh năm 2005, trú tại : Tổ E, phường H, thành phố Y.
- Phạm Ngọc T2, sinh năm 1999, trú tại: Tổ A, thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái.
2
- Nguyễn Vũ L2, sinh năm 2002, trú tại: Tổ D, phường Y, thành phố Y.
- Hoàng Thị N1, sinh năm 1999, trú tại: Thôn Đ, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hà M2, sinh năm 1996, trú tại: Phố H, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
- Bùi Nữ Thanh T3, sinh năm 1995, trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Trần Văn C, sinh năm 2001, trú tại: Khu G, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đều vắng mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu sài cá nhân, nên vào khoảng tháng 10/2023, Phạm Hải L, thuê căn biệt thự 03 tầng số BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc của chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1980, trú tại Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố V với giá 20.000.000đ/tháng, mục đích để cải tạo lại làm các phòng “Bay” để cho các đối tượng thuê sử dụng trái phép chất ma túy kiếm lời. Sau khi thuê nhà xong L cải tạo căn biệt thự, trong đó, tầng 1 dùng làm quầy tiếp tân đón khách, tầng 2 và tầng 3 có 04 phòng “bay”, mỗi tầng có 02 phòng. Đến cuối tháng 10/2023, L thuê Đỗ Anh T, sinh ngày 12/02/2008 quản lý, dọn dẹp và phục vụ khách đến thuê phòng và bán ma túy cho khách có nhu cầu mua để kiếm lời. Sau đó, L mua các dụng cụ phục vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy như đĩa sứ, đèn laze, loa Bluetooth... để tại tầng 1 căn biệt thự số BT-513, giao cho T quản lý, mục đích cho khách đến thuê phòng sử dụng. Khoảng 23 giờ ngày 19/12/2023, L mua ma túy tổng hợp bao gồm ma túy Ketamine, ma túy K với giá 26.000.000₫ cất vào trong túi sách màu đen, cất giấu trong ngăn tủ gỗ đặt tại tầng 1. Sau đó L chỉ vị trí cất giấu ma túy cho T biết và bảo T khi nào có người hỏi mua thì bán với giá 1.800.000đ/01 chỉ ma túy Ke (loại Ketamine) và 300.000đ/01 viên ma túy Kẹo (loại MDMA), giá tiền thuê phòng là 3.000.000đ/1 phòng/1 ca (mỗi ca 10 tiếng). Việc giao dịch được thực hiện bằng tiền mặt, nếu L không có mặt ở biệt thự thì T sẽ là người thu tiền. Do được L thuê với tiền công 5.000.000đ/ tháng để làm quản lý, nên khi L bảo T bán ma túy cho khách thì T đồng ý. Khi có khách đến thuê phòng, T có nhiệm vụ chuẩn bị phòng cho khách
3
cùng các dụng cụ sử dụng ma túy nếu khách cần. Khi có khách hỏi mua ma túy, T sẽ bán với giá như L đã thông báo trước đó.
Ngay trong đêm 19/12/2023, sau khi mua ma túy về, L đã sử dụng một ít tại biệt thự. Ngày 20/12/2023, L đi chơi cùng với Phan Anh T1, sinh ngày 02/3/2006 và Nguyễn Quỳnh A, sinh năm 2004, đến khoảng 03 giờ ngày 21/12/2023, L cùng với T1, Quỳnh A về đến căn biệt thự số BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V để nghỉ ngơi. L đưa T1 và Quỳnh A lên phòng ngủ tầng 2 bên tay trái hướng cầu thang từ dưới đi lên để ngủ. Tuy nhiên, T1 kêu khó ngủ, nên L nảy sinh ý định sử dụng ma túy cho dễ ngủ. L bảo T đem 01 chỉ ma túy Ketamine cùng dụng cụ sử dụng ma túy lên phòng để cùng T1 và Quỳnh A sử dụng. T đồng ý, mang 01 đĩa sứ màu trắng, 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng, 01 thẻ nhựa màu trắng và 01 túi nilon nhỏ bên trong chứa ma túy, loại Ketamine lên phòng. T đổ ma túy đã được “xào ke” sẵn, tức là chế biến ma túy Ketamine đổ ra đĩa sứ và đặt lên bàn rồi xuống tầng 1 để ngủ. Sau đó, lần lượt L, T1 và Quỳnh A sử dụng thẻ nhựa kẻ ma túy thành các đường nhỏ rồi dùng ống hút, hít ma túy vào cơ thể .
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, Hoàng Anh H1 (tên gọi khác là Bảy H6), sinh năm 1988 nảy sinh ý định sử dụng ma túy. Do biết L có cho thuê địa điểm để sử dụng ma túy nên H1 nhắn tin qua Zalo rủ Bùi Ngọc A1, sinh năm 2002; Nguyễn Minh H5, sinh năm 1993; Nguyễn Thị Trà M1, sinh năm 2005 lên thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để sử dụng ma túy. Lúc này, Ngọc A1, H5 và M1 đang cùng đám bạn gồm Phạm Ngọc T2, sinh năm 1999; Nguyễn Vũ L2, sinh năm 2002; Hoàng Thị N1, sinh năm 1999 đang ở tại phòng trọ tại huyện G, thành phố Hà Nội của Nguyễn Thị Hà M2, sinh năm 1996. Khi được H1 rủ lên thành phố V để sử dụng ma túy thì cả nhóm đồng ý. L2 điều khiển xe ô tô BKS: 21A-180.74 chở cả nhóm, đi theo định vị do H1 gửi qua Zalo lên căn biệt thự số BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V. Sau khi rủ được Ngọc A1, H5 cùng các bạn lên thành phố V sử dụng ma túy, đến khoảng 6 giờ cùng ngày, Hoàng Anh H1 đi ăn sáng tại đường L, phường N, thành phố V, lúc này, H1 có gặp một người nam giới tên H7, sinh năm 1988, người Thái Bình (H7 là bạn ngoài xã hội của H1, tuy nhiên H1 không biết họ, tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của H7). H1 hỏi mua của H7 ¼ uốn ma túy Ketamine (tương đương 04 chỉ ma túy Ketamine), mục đích để mời nhóm Ngọc A1 sử dụng. H7 đồng ý, H1 hẹn H7 mang ma túy đến căn biệt thự số BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành
4
phố V để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, H1 một mình đi xe taxi đến căn biệt thự số BT-513 để thuê phòng. Khi đến nơi, H1 gặp T, bảo T chuẩn bị cho một phòng để sử dụng ma túy, sau đó H1 ngồi tại phòng khách tầng 1 chờ H7 đem ma túy đến. Khoảng 30 phút sau, H7 điều khiển xe ô tô (không rõ đặc điểm) đến, bấm còi 02 lần ra hiệu thì H1 đi ra, lên xe ô tô do H7 điều khiển. Tại đây, H7 đưa cho H1 04 chỉ ma túy Ketamine, H1 nhận ma túy đem vào trong biệt thự, còn H7 lái xe ô tô đi đâu H1 không rõ. Sau khi vào biệt thự, H1 được T đưa lên phòng ngủ tầng 3 phía bên tay phải cầu thang theo hướng từ dưới đi lên, trong phòng đã được T chuẩn bị sẵn một đĩa sứ màu trắng, 01 ống hút được cuốn bằng tiền polime mệnh giá 20.000đ được cố định hai đầu bằng hai mảnh giấy màu xanh, 01 thẻ nhựa cứng màu trắng dùng để làm công cụ sử dụng ma túy. Khi vào phòng, H1 lấy 04 gói ma túy vừa mua được để trên đĩa sứ rồi nằm tại phòng để chờ nhóm Ngọc A1. Khoảng 01 tiếng sau, nhóm của Ngọc A1 đến, H1 ra đón và đưa cả nhóm lên phòng. Sau khi cả nhóm vào phòng, H1 đổ 02 gói ma túy Ketamine ra đĩa sứ để “xào ke” (tức là chế biến ma túy Ketamine) và sử dụng thẻ nhựa kẻ ma túy thành các đường nhỏ. Sau khi “xào ke” xong, H1 lấy ống hút, hít ma túy vào cơ thể rồi đặt đĩa sứ lên mặt bàn, mời cả nhóm cùng sử dụng ma túy. T2, Ngọc A1, H5, Trà M1, L2, Hà M2, N1 lần lượt dùng ống hút hít ma túy vào cơ thể. Lúc này, H1 bật nhạc lên để mọi người vừa sử dụng ma túy vừa nghe nhạc. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Bùi Nữ Thanh T3, sinh năm 1995 gọi điện thoại cho H1 để nhờ H1 đưa đi xem mặt bằng thuê mở quán, thì H1 mời Thanh T3 đến chơi, T3 đồng ý nên H1 gửi vị trí qua Zalo. Khi Thanh T3 đến căn biệt thự số BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V, H1 xuống đón và đưa Thanh T3 lên phòng. Lúc Thanh T3 vào phòng, nhìn thấy Ngọc A1 đang sử dụng ma túy nên Thanh T3 đi đến và tự sử dụng 02 đường ma túy Ketamine.
Trước đó, vào khoảng 08 giờ ngày 21/12/2023, Trần Văn C, sinh năm 2001 đưa vợ là Thào Thị C1, sinh năm 1999, cùng trú tại Khu G, thị trấn K, huyện T đến thành phố V để khám thai nhưng phòng khám đóng cửa nên không khám được. Do có mối quan hệ bạn bè với L và T, nhiều lần đến căn biệt thự số BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V chơi và có chìa khóa nhà nên C đưa chị C1 đến căn biệt thự số BT-513 để nghỉ ngơi. Khi đến nơi, C thấy cửa đóng nên tự lấy chìa khóa C mang theo để mở cửa. Sau khi vào, C gặp T ở tầng 1 thì hỏi L đâu, T nói L đang tiếp bạn trên tầng 2. C quan sát thấy góc nhà tầng 1 có đặt một chiếc đệm nên đưa chị C1 cùng đến nằm ngủ. Khoảng 12 giờ cùng ngày, C dậy, đi lên tầng 2 tìm L thì thấy L đang ngủ ở phòng ngủ bên trái. C đi vào phòng ngủ bên phải thì thấy trong phòng không có ai, trên mặt bàn kê trong
5
phòng có 01 đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có một ít ma túy Ketamine chưa dùng hết đã được kẻ thành đường và ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ, được cố định hai đầu bằng đầu lọc thuốc lá nên C dùng ống hút hít ma túy vào cơ thể. Sau đó C phê ma túy và nằm ngủ tại phòng.
Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Ngọc A1, L2, H, T, Ngọc T2 ra về trước, còn lại H5, N1, Thanh T3, H1 ở lại tiếp tục sử dụng ma túy. Trước khi về, L2 nhìn thấy có 01 gói ma túy chưa dùng hết nên L2 cầm lấy gói ma túy đó để vào túi quần phía trước bên phải chiếc quần L2 đang mặc, mục đích đem về sử dụng cho bản thân. Khi nhóm của Ngọc A1, L2, Hà M2, Trà M1, Ngọc T2 xuống đến phòng khách tầng 1 của căn biệt thự thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V phối hợp Công an phường Đ kiểm tra hành chính căn biệt thự BT-513, khu đô thị V, thuộc phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại thời điểm kiểm tra, Cơ quan điều tra phát hiện:
- - Tại phòng khách tầng 1 có 07 đối tượng gồm: Đỗ Anh T; Thào Thị C1; Phạm Ngọc T2; Bùi Ngọc A1; Nguyễn Vũ L2; Nguyễn Thị Hà M2; Nguyễn Thị Trà M1.
- + Qua kiểm tra phát hiện, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải chiếc quần đang mặc của Nguyễn Vũ L2 có 01 túi nilon nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A1.
- + Phát hiện thu giữ trên mặt bàn kê tại phòng khách tầng 1 có 02 gói nilon nhỏ bên trong đều có chứa chất bột và hạt tinh thể màu trắng được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A2; phát hiện thu giữ trong túi giả da màu đen để trên mặt đệm đặt tại phòng khách tầng 1 có 02 túi nilon bên trong đều chứa chất bột màu trắng và các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A3; 01 túi nilon bên trong có chứa 13 viên nén màu xám được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A4 và 05 vỏ túi nilon được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A5.
- - Kiểm tra phòng ngủ tầng 2 bên tay trái theo hướng cầu thang từ dưới đi lên có 03 đối tượng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Phạm Hải L; Phan Anh T1; Nguyễn Quỳnh A.
- Cơ quan Công an thu giữ trên giường kê trong phòng ngủ này có: 01 đĩa sứ màu trắng, trên bề mặt đĩa sứ có 01 thẻ nhựa màu trắng, 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ; 01 vỏ túi nilon tất cả đều có bám dính chất bột màu trắng. Vật chứng được niêm phong vào hộp giấy ký hiệu B1.
- Kiểm tra phòng ngủ tầng hai bên tay phải cầu thang theo hướng từ dưới đi lên có đối tượng Trần Văn C đang ngủ trong phòng.
6
Cơ quan Công an thu giữ trên mặt bàn kê trong phòng ngủ này có: 01 đĩa sứ màu trắng, trên bề mặt đĩa sứ có 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ; 01 vỏ túi nilon đều có bám dính chất bột màu trắng. Vật chứng được niêm phong vào hộp giấy ký hiệu B2.
- - Kiểm tra phòng ngủ trên tầng 3 bên tay phải theo hướng từ cầu thang đi lên phát hiện trong phòng có 04 đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Hoàng Anh H1; Nguyễn Minh H5; Bùi Nữ Thanh T3; Hoàng Thị N1.
- Cơ quan Công an thu giữ trên mặt bàn kê trong phòng ngủ này có: 01 đĩa sứ màu trắng, trên bề mặt đĩa sứ có 01 thẻ nhựa màu trắng, 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đ được niêm phong vào hộp giấy ký hiệu C1 và 02 túi nilon có chứa chất bột, cục tinh thể màu trắng được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu C2; tạm giữ 01 chiếc loa; 01 bộ đèn laze màu đen và 01 bình ga có gắn đầu khò.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu ghi của Hoàng Anh H1.
Ngày 22/12/2023 Cơ quan CSĐT- Công an thành phố V tiến hành thu mẫu nước tiểu của 14 đối tượng liên quan (chị Thào Thị C1 đang có thai và không liên quan đến hành vi vi phạm của các đối tượng nên không thu mẫu giám định) để trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V giám định tìm chất ma túy có trong nước tiểu. Đồng thời phối hợp cùng Trung tâm y tế thành phố V tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với 14 đối tượng liên quan, kết quả:
- - 13/14 đối tượng dương tính với chất ma túy Methamphetamine, Ketamine và MDMA gồm: Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Phạm Hải L, Phan Anh T1, Nguyễn Quỳnh A, Trần Văn C, Hoàng Anh H1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3 và Hoàng Thị N1.
- - 01 đối tượng âm tính với ma túy là Đỗ Anh T.
Tại Kết luận giám định số 05 ngày 01/01/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Đỗ Anh T.
Tại các Kết luận giám định số 06, 07, 08, 09, 10, 11 cùng ngày 01/01/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Phạm Hải L.
Tại các Kết luận giám định số 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42 cùng ngày 02/01/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và
7
Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Phan Anh T1, Nguyễn Quỳnh A, Trần Văn C, Hoàng Anh H1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1.
Tại Kết luận giám định số 3511 ngày 26/12/2023, Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:
- - Chất bột màu trắng của mẫu A1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,0933g (không kể bao bì).
- - Chất bột màu trắng của mẫu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có tổng khối lượng 1,8909g (không kể bao bì).
- - Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu A3 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có tổng khối lượng 17,4659g (không kể bao bì).
- - Mười ba viên nén màu trắng xám của mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 4,4238g không kể bao bì.
- - Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu C2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có tổng khối lượng 5,4655g không kể bao bì.
- - Chất bám dính màu trắng trên bề mặt 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000₫ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 túi nilon không màu có kích thước (6x9) cm có trong mẫu B1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng do tồn tại ở dạng vết.
- - Chất bám dính màu trắng trên bề mặt 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng và 01 vỏ đầu lọc thuốc lá có dòng chữ “ORANGE CAPSULE”; 01 túi nilon không màu, viền xanh có kích thước (3x3) cm có trong mẫu B2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng do tồn tại ở dạng vết.
- - Chất bám dính màu trắng trên bề mặt 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu xanh trắng có dòng chữ “ICE CAPSULE” có trong mẫu C1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng do tồn tại ở dạng vết.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,00g; A2 = 1,7999g; A3 = 17,3148g; A4 = 4,2253g; C2 = 5,3770g. B1 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 túi nilon không màu có kích thước (6x9)cm; B2 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 ống hút được
8
cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000₫ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng và 01 vỏ đầu lọc thuốc lá có dòng chữ “ORANGE CAPSULE”; 01 túi nilon không màu, viền xanh có kích thước (3x3)cm; C1 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu xanh trắng có dòng chữ “ICE CAPSULE” cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định.
Về nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ trên mặt bàn của phòng khách tầng 1 được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A2 và thu giữ trong túi giả da màu đen để trên mặt đệm tại phòng khách tầng 1 được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A3, A4, quá trình điều tra xác định là của Phạm Hải L mua về cất giấu ở biệt thự và giao cho T bán cho khách để kiếm lời. Tối ngày 19/12/2023, L mua số ma túy bao gồm 01 túi ma túy Ketamin và khoảng 50 viên ma túy K với giá 26.000.000đ từ một người nam giới khoảng 30 tuổi, cao 1m65, tạng người trung bình, đi xe ô tô không rõ biển kiểm soát tại khu vực cầu vượt Đ, thành phố V. L không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể của người nam giới này.
Về nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ trong túi quần phía trước bên phải chiếc quần Nguyễn Vũ L2 đang mặc và trên mặt bàn phòng ngủ trên tầng 3 bên tay phải hướng từ cầu thang đi lên được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A1 và C2, quá trình điều tra xác định số ma túy này nằm trong 04 gói ma túy, loại Ketamine do Hoàng Anh H1 mua của một người nam giới tên H7 vào sáng ngày 21/12/2023 tại trước cửa căn biệt thự BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V. H7 có đặc điểm cao khoảng 1m70, thể tạng trung bình, da ngăm đen, tóc cắt ngắn. H1 không biết đầy đủ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người nam giới tên H7 này.
Tại Cáo trạng số: 90/CT-VKSTPVY ngày 07/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Phạm Hải L về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm e, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hoàng Anh H1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đỗ Anh T về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
9
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Phạm Hải L, Hoàng Anh H1, Đỗ Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người có liên quan trong vụ án, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với Phạm Hải L: Đề nghị áp dụng điểm e, p khoản 2 Điều 251; điểm a,b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Phạm Hải L từ 08 năm đến 08 năm 3 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 7 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 15 năm 6 tháng đến 16 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/12/2023).
Đối với Hoàng Anh H1: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Hoàng Anh H1 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam(ngày 22/12/2023).
Đối với Đỗ Anh T: Đề nghị áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Đỗ Anh T từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/12/2023).
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12; 01 chiếc loa; 01 bộ đèn laze màu đen.
Tịch thu tiêu hủy 01 bình ga có gắn đầu khò và số ma túy và đồ vật còn lại sau giám định, cụ thể A1 = 0,00g; A2 = 1,7999g; A3 = 17,3148g; A4 = 4,2253g; C2 = 5,3770g. B1 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng; 01 túi nilon không màu có kích thước (6x9)cm; B2 gồm 01 đĩa sứ màu
10
trắng có đường kính 31,5cm; 01 túi nilon không màu, viền xanh có kích thước (3x3)cm; C1 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ cuốn thành ống hút làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy.
Người bào chữa của bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước có quan điểm: Bị cáo Đỗ Anh T là đồng phạm giúp sức cho bị cáo Phạm Hải L mua bán 02 chất ma túy, nên Cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; khi phạm tội là người chưa đủ 16 tuổi, nhận thức chưa đầy đủ nên mới phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt.
Bị cáo Đỗ Anh T và người đại diện hợp pháp cho bị cáo nhất trí với bản luận cứ của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung gì khác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo khác là Phạm Hải L, Hoàng Anh H1 không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Phạm Hải L, Hoàng Anh H1, Đỗ Anh T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn
11
cứ để kết luận:
Khoảng tháng 10/2023, Phạm Hải L thuê căn biệt thự BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V, sau đó cải tạo thành các phòng “bay” cho các đối tượng thuê để sử dụng ma túy. L thuê Đỗ Anh T là người quản lý trong quá trình kinh doanh. Ngày 19/12/2023, L mua 26.000.000đ tiền ma túy loại Ketamine và K (ma túy MDMA), qua giám định có tổng khối lượng 23,7806g ma túy Ketamine và MDMA (tổng tỉ lệ chất ma túy MDMA và Ketamine là 185,26%), mang về cất giấu tại biệt thự và giao cho T bán cho khách có nhu cầu mua với giá 1.800.000đ/01 chỉ ma túy Ketamine và 300.000đ/ 01 viên ma túy Kẹo.
Ngày 21/12/2023, tại tầng 2 của căn biệt thự, Phạm Hải L có hành vi tổ chức cho Phan Anh T1, Nguyễn Quỳnh A sử dụng trái phép chất ma túy. Cùng ngày, Phạm Hải L cung cấp địa điểm, công cụ cho Hoàng Anh H1 tổ chức cho Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1 sử dụng trái phép chất ma túy tại tầng 3 căn biệt thự BT-513, đến 14 giờ 30 phút ngày 21/12/2023 bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố V phối hợp với Công an phường Đ kiểm tra hành chính phát hiện và bắt giữ, thu giữ các vật chứng liên quan như đã nêu trên.
Hành vi mua 02 loại ma túy loại Ketamine và K (ma túy MDMA), qua giám định có tổng khối lượng 23,7806g ma túy Ketamine và MDMA (tổng tỉ lệ chất ma túy MDMA và Ketamine là 185,26%), mang về cất giấu tại biệt thự và giao cho Đỗ Anh T (mới 15 tuổi, 10 tháng, 09 ngày) bán cho khách để kiếm lời của bị cáo L đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với 02 tình tiết định khung là “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội” và “ Có 02 chất ma túy trở lên ....” quy định tại điểm e, p khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự có khung hình cao nhất đến 15 năm tù. Bị cáo Đỗ Anh T được L giao cho 23,7806g ma túy Ketamine và MDMA để bán cho người khác thu lời, biết là việc mua bán ma túy là trái phép nhưng vẫn đồng ý cất giấu số ma tuy trên để bán cho người khác, nên đã đồng phạm với L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt đến 07 năm đến 15 tù.
Ngày 21/12/2023 Hoàng Anh H1 đã thuê phòng tại căn biệt thự BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V của L để tổ chức cho Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1 sử dụng trái phép chất ma túy đã
12
phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cùng một lần nhưng tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 07 đến 15 năm tù.
Ngoài ra trong ngày 21/12/2023, L còn trực tiếp thực hiện hành vi tổ chức cho Phan Anh T1 và Nguyễn Quỳnh A sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ tầng 2 căn biệt thự BT-513. Tính đến ngày 21/12/2023, Đỗ Anh T mới 15 tuổi, 10 tháng, 09 ngày; Phan Anh T1 mới 17 tuổi, 09 tháng, 19 ngày. Mặt khác khi bị cáo H1 mua ma túy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cáo L đã chỉ đạo bị cáo T chuẩn bị công cụ, phương tiện để H1 tổ chức cho Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1 sử dụng trái phép tại phòng ngủ tầng 3 của căn biệt thự BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V. Do bị cáo T chưa đủ 16 tuổi nên không chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, nhưng bị cáo L phải chịu trách nhiệm cùng với bị cáo H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm giúp sức. Như vậy ngoài hành vi tổ chức cho Phan Anh T1 và Nguyễn Quỳnh A sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo L còn giúp sức cho bị cáo H1 tổ chức cho Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1 sử dụng ma túy, mỗi lần đều thỏa mãn cấu thành tội phạm nên bị cáo còn phải chịu các tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm a,b,c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt đến 07 năm đến 15 năm tù.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về tính chất, vị trí vai trò của các bị cáo.
13
Các bị cáo phạm tội theo khoản 2 Điều 251 và khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù nên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm rất nghiêm trọng.
Trong vụ án này tại một địa điểm nhưng có 02 nhóm bị cáo phạm tội khác nhau, trong đó bị cáo L, bị cáo T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” ngoài ra bị cáo L còn phạm thêm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Hoàng Anh H1 phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo L là đồng phạm giức cho bị cáo H1 trong việc tổ chức cho Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1 và là người trực tiếp tổ chức cho Phan Anh T1 và Nguyễn Quỳnh A sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo T đồng phạm giúp sức cho bị cáo L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hành vi phạm tội của bị cáo L và bị cáo T thấy rằng: Giữa bị cáo L và bị cáo T phạm tội có tính chất đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo L là người chủ mưu, cầm đầu trực tiếp thực hiện tội phạm. Bị cáo là người trực tiếp bố trí, sắp xếp địa điểm và cung cấp ma túy để bản thân và nhiều người có liên quan sử dụng trái phép chất ma túy, là người bỏ tiền mua 02 loại ma túy giao cho Đỗ Anh T (lúc đó chư đủ 16 tuổi) cất giữ bán cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng để kiếm lời do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.
Đỗ Anh T là người được L thuê giúp việc, biết việc ly thuê nhà tổ chức cho các bị cáo khác sử dụng trái phép ma túy và mua ma túy về bán kiếm lời, biết bị cáo H1 tổ chức cho nhiều người khác sử dụng ma túy nhưng bị cáo vẫn đồng ý giúp sức cho bị cáo L, bị cáo H1. Lẽ ra bị cáo còn đồng phạm với bị cáo L và bị cáo H1 cả về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cũng như tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tuy nhiên tại thời điểm phạm tôi bị cáo mới 15 tuổi, 10 tháng, 09 ngày chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuy” với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo L.
Bị cáo H1 là người trực tiếp thuê địa điểm, mua ma túy, chuẩn bị công cụ phương tiện để tổ chức cho nhiều người cùng một lúc sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo L, bị cáo T biết nhưng vẫn tạo điều kiện để H1 tổ chức cho Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1 sử dụng trái phép tại
14
phòng ngủ tầng 3 của căn biệt thự BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V. Do bị cáo T chưa đủ 16 tuổi nên không chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, nhưng bị cáo L phải chịu trách nhiệm cùng với bị cáo H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm giúp sức. Như vậy ngoài hành vi tổ chức cho Phan Anh T1 và Nguyễn Quỳnh A sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo L còn giúp sức cho bị cáo H1 tổ chức cho Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1 sử dụng ma túy, mỗi lần đều thỏa mãn cấu thành tội phạm nên bị cáo còn phải chịu một tình tiết định khung tăng năng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối các bị cáo.
[2.2.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo L, H1, T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.2.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo L, T đều “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo H1 “Thành khẩn khai báo” đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra bị cáo H1 có bố là ông Hoàng Văn H2 trong thời gian phục vụ trong quân đội được Nhà nước tặng giấy khen, bị cáo được công an xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ xác nhận có thành tích trong công tác phối hợp với lực lượng công an đấu tranh phòng chống tội phạm; bị cáo L và bị cáo T đều lần đầu tiên bị Tòa án đưa ra xét xử, bị cáo L tại thời điểm phạm tội chồng bị cáo đang cải tạo trại tạm giam Hồng Ca - tỉnh Yên Bái, một mình nuôi con nhỏ, bị cáo T có ông nội là Đỗ Xuân T5 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên được xem xét để giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra khi phạm tội bị cáo T là người chưa thành niên (tính đến ngày phạm tội bị cáo mới 15 tuổi, 10 tháng, 09 ngày), do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, chỉ cần phạt bị cáo mức án = ½ mức án cho người thành niên là có căn cứ.
Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, các bị cáo nhận thức được việc mua bán, tổ chức sử dụng ma túy là trái pháp luật, nhưng vì hám lợi và thỏa mãn nhu cầu cá nhân vẫn cố tình thực hiện. Mặt khác hiện tại các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố V có chiều hướng gia tăng,
15
đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Riêng bị cáo T là người chưa thành niên (tính đến ngày phạm tội bị cáo mới 15 tuổi, 10 tháng, 09 ngày) chỉ cần phạt mức án khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của người bào chữa, tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình là có căn cứ.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251; khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, quản chế, cấm cư trú hoặc tịnh thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, bị cáo T là người chưa thành niên, các bị cáo H1, bị cáo L không có tài sản và nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[4] Đối với các người có liên quan đến vụ án gồm:
Đối người nam giới khoảng 30 tuổi, cao 1m65, ở khu vực cầu vượt Đ, thành phố V đã bán 1 túi ma túy Ketamin và khoảng 50 viên ma túy Kẹo cho Phạm Hải L, bản thân bị cáo L không biết người này là ai, ngoài lời khai của bị cáo L không có chứng cứ nào khác, Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an phường Đ nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Đối với người nam giới tên H7 là người đã bán ma túy cho bị cáo H1 vào sáng ngày 21/12/2023 tại trước cửa căn biệt thự BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V. H7 có đặc điểm cao khoảng 1m70, thể tạng trung bình, da ngăm đen, tóc cắt ngắn. H1 không biết đầy đủ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người nam giới tên H7 này. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ, xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị T4 là người cho L thuê căn biệt thự BT-513 thuộc Khu đô thị V, phường Đ, thành phố V, quá trình điều tra xác định, chủ sở hữu căn biệt thự là chị Nguyễn Thị H8, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố T, phường K, thành phố V. Sau khi mua căn biệt thự trên, do không có nhu cầu ở nên chị H8 cho chị T4 thuê với giá 15.000.000đ/ tháng, chị T4 cho L thuê lại với giá 20.000.000đ/ tháng. Khi thuê nhà, L nói với chị T4 là để ở. Chị T4 và chị H8 đều không biết L thuê nhà với mục đích để cải tạo thành các phòng “bay” cho các đối
16
tượng thuê sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy của Nguyễn Vũ L2 thấy rằng: Theo Kết luận giám định số 3511 ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V xác định là chất ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,0933g. Quá trình điều tra xác định, L2 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; chưa bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 BLHS. Do vậy, hành vi của Nguyễn Vũ L2 chưa cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS nên cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính đối với L2 là có căn cứ.
Đối với 02 gói ma túy thu giữ trên mặt bàn phòng ngủ trên tầng 3 phía tay phải theo hướng từ cầu thang đi lên, theo Kết luận giám định số 3511 ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V xác định là chất ma túy, loại Ketamine có tổng khối lượng 5,4655g. Đây là số ma túy trên nằm trong 04 gói ma túy, loại Ketamine do Hoàng Anh H1 mua, đem đến căn biệt thự để cả nhóm sử dụng. Sau khi mua được ma túy, H1 đặt toàn bộ 04 gói ma túy lên mặt bàn để tất cả mọi người cùng sử dụng chung, nhóm của H1 đã sử dụng hết 02 gói, còn lại H1, Thanh T3, H5 và N1 vẫn đang tiếp tục sử dụng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính phát hiện, lập biên bản bắt giữ. Việc cả nhóm của H1 không sử dụng hết ma túy do bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện chứ không phải do các đối tượng tự ý chấm dứt hành vi hoặc cất giữ riêng để sử dụng vào lúc khác hoặc ở địa điểm khác. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý H1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Đối với hành vi của Phạm Hải L thuê Đỗ Anh T, sinh ngày 12/02/2008 (chưa đủ 16 tuổi) để giúp L thực hiện việc quản lý, dọn dẹp căn biệt thự BT-513, giúp L bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có dấu hiệu của tội Vi phạm quy định về sử dụng lao động dưới 16 tuổi quy định tại Điều 296 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, L chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa bị kết án về tội này, chưa gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của T nên hành vi của L không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không xử lý L về tội Vi phạm quy định về sử dụng lao động dưới 16 tuổi quy định tại Điều 296 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Đối với Trần Văn C và Thào Thị C1 là bạn của L và T, đồng thời có chìa khóa căn biệt thự BT-513 nên C đưa vợ là chị C1 đang mang thai đến biệt thự để
17
nghỉ ngơi. Sau khi đến biệt thự, chị C1 nằm ngủ trên chiếc đệm kê tại góc nhà tầng 1, chị C1 không sử dụng trái phép chất ma túy. C có hành vi tự ý sử dụng trái phép chất ma túy trên chiếc đĩa để ở phòng ngủ bên phải tầng 2, C không được nhóm L hoặc nhóm của H1 rủ rê sử dụng trái phép chất ma túy. Không liên quan đến hành vi phạm tội của L và H1. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý C và chị C1 là có căn cứ.
Đối với các người có liên quan trong việc sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Phạm Ngọc T2, Bùi Ngọc A1, Nguyễn Vũ L2, Nguyễn Thị Hà M2, Nguyễn Thị Trà M1, Phan Anh T1, Nguyễn Quỳnh A, Nguyễn Minh H5, Bùi Nữ Thanh T3, Hoàng Thị N1, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền mức phạt mỗi người 1.500.000đ; xử phạt Nguyễn Vũ L2 5.000.000đ; xử phạt Phan Anh T1 750.000₫ (do T1 chưa đủ 18 tuổi) theo quy định tại b khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là có căn cứ.
[5] Về vật chứng:
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 của H1 là phương tiện phạm tội, do vậy cần tịch thu bán phát mại sung Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 chiếc loa; 01 bộ đèn laze màu đen và 01 bình ga có gắn đầu khò là công cụ L và T chuẩn bị để cho H1 chế biến ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do vậy cần tịch thu tiêu hủy 01 bình ga có gắn đầu khò và tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc loa; 01 bộ đèn laze màu đen là có căn cứ.
Đối với số ma túy và đồ vật còn lại sau giám định, cụ thể A1 = 0,00g; A2 = 1,7999g; A3 = 17,3148g; A4 = 4,2253g; C2 = 5,3770g. B1 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng; 01 túi nilon không màu có kích thước (6x9)cm; B2 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 túi nilon không màu, viền xanh có kích thước (3x3)cm; C1 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000₫ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng và 01 vỏ đầu lọc thuốc lá có dòng chữ “ORANGE CAPSULE”; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu xanh trắng có dòng chữ “ICE CAPSULE”, quá trình điều tra xác
18
định là tiền Việt Nam đồng được T và L cuốn thành ống hút làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[6] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Hải L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Đỗ Anh T phạm tội “Mua bán trái pháp chất ma túy”; bị cáo Hoàng Anh H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm e, p khoản 2 Điều 251; điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt Phạm Hải L 08 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 15 (Mười lăm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 22/12/2023).
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt Hoàng Anh H1 từ 07 (B) năm 06 (S) tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 22/12/2023).
- Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt Đỗ Anh T từ 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 22/12/2023).
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12; 01 chiếc loa; 01 bộ đèn laze màu đen.
19
Tịch thu tiêu hủy 01 bình ga có gắn đầu khò và số ma túy và đồ vật còn lại sau giám định, cụ thể A1 = 0,00g; A2 = 1,7999g; A3 = 17,3148g; A4 = 4,2253g; C2 = 5,3770g; B1 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng; 01 túi nilon không màu có kích thước (6x9)cm; B2 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 túi nilon không màu, viền xanh có kích thước (3x3)cm; C1 gồm 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 31,5cm; 01 thẻ nhựa màu trắng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 02 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ cuốn thành ống hút làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy.
(Đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024)
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Phạm Hải L, Hoàng Anh H1, Đỗ Anh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo Đỗ Anh T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đỗ Minh Ái |
20
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hải L cùng đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
