|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/4/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Chính.
- Ông Trần Công Danh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Trần Q, sinh năm 1977.
Địa chỉ: 9, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Thanh P, sinh năm 1984.
Địa chỉ: 9, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên lạc: Số C, tổ C, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông Q có mặt, bà P1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Trần Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị Thanh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 18/03/2008. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà P.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà P có 02 con chung tên là cháu Phạm Hoàng Gia P2, sinh ngày 25/11/2012 và cháu Phạm Hoàng Gia L, sinh ngày 25/11/2012. Ly hôn, ông yêu cầu Tòa án giao cháu P2 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và đồng ý giao cháu L cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông và bà P không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị Thanh P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Trần Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 18/03/2008. Quá trình chung sống, cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do mẹ ruột ông Q can thiệp sâu vào cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông Q. Nay ông Q xin ly hôn thì bà không đồng ý do bà theo đạo Công giáo, đồng thời muốn vợ chồng hàn gắn để con cái có gia đình đầy đủ cha mẹ.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông Q có 02 con chung tên là cháu Phạm Hoàng Gia P2, sinh ngày 25/11/2012 và cháu Phạm Hoàng Gia L, sinh ngày 25/11/2012. Ly hôn, bà yêu cầu Tòa án giao cháu L cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và đồng ý giao cháu P2 cho ông Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời bà và ông Q không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Trần Q. Cho ông Q ly hôn với bà P.
Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng Gia P2, sinh ngày 25/11/2012 cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao cháu Phạm Hoàng Gia L, sinh ngày 25/11/2012 cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời ông Q, bà P không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
2
Về tài sản chung: Đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ông Phạm Trần Q xin ly hôn với bà Phạm Thị Thanh P. Bà P có nơi cư trú tại địa chỉ: 9, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Tại phiên toà, bà P có đơn xin giải quyết vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Trần Q:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Q và bà P tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn và được UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 18 tháng 3 năm 2008 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Theo trình bày của ông Q thì sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ, ông Q xin được ly hôn với bà P. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Q, bà P. Tại biên bản xác minh ngày 02 tháng 4 năm 2024, địa phương không cung cấp được thông tin mâu thuẫn vợ chồng do ông Q, bà P không trình báo với địa phương.
Tuy nhiên, quá trình làm việc và tại phiên hoà giải, ông Q, bà P xác nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Q, bà P có mâu thuẫn tình cảm do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không quan tâm đến nhau. Ông Q, bà P ly thân từ tháng 01/2024 đến nay. Tòa án đã tiến hành hoà giải để các đương sự đoàn tụ với nhau nhưng kết quả hoà giải không thành, các bên không đưa ra được biện pháp để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, đồng thời ông Q vẫn cương quyết ly hôn.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông Q, bà P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, các bên không có thiện chí trong việc hàn gắn mối quan hệ, không thể hoà giải hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nay ông Q xin ly hôn với bà P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
3
Quá trình chung sống, ông Q và bà P có 02 con chung tên là cháu Phạm Hoàng Gia P2, sinh ngày 25/11/2012 và cháu Phạm Hoàng Gia L, sinh ngày 25/11/2012. Ly hôn, ông Q, bà P có ý kiến yêu cầu Tòa án giao cháu P2 cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giao cháu L cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Q, bà P không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Từ tháng 01/2024 đến nay, ông Q, bà P ly thân, cháu P2 do ông Q trực tiếp chăm sóc, cháu L do bà P trực tiếp chăm sóc. Các cháu P2, L đã trên 07 tuổi. Qua tham khảo ý kiến của các cháu thì cháu P2 có nguyện vọng được sống chung với ông Q, được ông Q trực tiếp chăm sóc, giáo dục, cháu L có nguyện vọng được sống chung với bà P, được bà P trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định, tôn trọng nguyện vọng của hai cháu nên chấp nhận yêu cầu của ông Q, bà P, giao cháu P2 cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao cháu L cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Vì quyền lợi của con chung khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Ông Q, bà P trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Ông Q, bà P trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Ông Phạm Trần Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Trần Q, cho ông Phạm Trần Q được ly hôn với bà Phạm Thị Thanh P.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng Gia P2, sinh ngày 25/11/2012 cho ông Phạm Trần Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và cháu Phạm Hoàng Gia L, sinh ngày 25/11/2012 cho bà Phạm Thị Thanh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Q, bà P không cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
4
Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung : Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Trần Q phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Q đã nộp theo biên lai số 0001940 ngày 27/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà (Ông Q đã nộp xong).
6. Ông Phạm Trần Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Phạm Thị Thanh P được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |
5
Bản án số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 99/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Trần Quang ly hôn với Phạm Thị Thanh Phượng
