|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HS-ST.
Ngày: 22/4/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hùng Minh Sang.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Phạm Văn Huynh.
- + Bà Lê Thị Ánh Sáng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm, công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, bị hại. Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện L: Bị cáo, Thư ký, Cán bộ chiến sĩ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Thái Thanh A, sinh năm 1999. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt)
Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 8/12.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Thái Thanh P và bà Lê Hồng C.
Gia đình có 02 chị em; bị cáo là con thứ 02.
Vợ Bùi Phương T (đã ly hôn), có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/10/2023.
- Bị hại: Chị Huỳnh Hồng H, sinh năm: 2006 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Mai Thị Ngọc H1, sinh năm: 1978, (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Chị Phạm Thị Hồng T1, sinh năm: 1995, (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Anh Lê Trần V, sinh năm: 1976, (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Thái Thanh P, sinh năm: 1977, (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
+ Cháu Huỳnh Thị Yến N, sinh năm: 2007, (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện hợp pháp cho cháu N: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1985, (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 14 giờ 15 phút ngày 04/10/2023, Thái Thanh A điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60G1 – 264.80 lưu thông trên đường Q hướng L đi B, khi đi đến đoạn đường gần Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện chị Huỳnh Thị Yến N điều khiển xe mô tô biển số 60AN – 078.30 chở theo phía sau là chị Huỳnh Hồng H đang lưu thông cùng chiều phía trước, A điều khiển xe bám theo phía sau. A quan sát thấy khi chị H vén cổ áo khoác để lộ trên cổ chị H có đeo 01 sợi dây chuyền vàng, A tiếp tục điều khiển xe đi theo phía sau xe chị N, khi đến đoạn đường G thuộc ấp B, xã L, huyện L, A quan sát thấy vắng người đi đường nên A cho xe áp sát bên phải xe của chị Nhi đồng t dùng tay trái giật đứt sợi dây chuyền trên cổ chị H. Sau đó, tăng ga bỏ chạy để tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được sợi dây chuyền, A đến tiệm V1" ở ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai bán cho anh Lê Trần V được 6.900.000đồng rồi đi về nhà. Khi về nhà A cho ba ruột là Thái Thanh P số tiền 1.000.000đồng, số tiền còn lại A tiêu xài cá nhân. Sau khi mất dây chuyền, chị H trình báo Công an xã L, huyện L phối hợp với Công an huyện L bắt giữ Thái Thanh A.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60G1 – 264.80.
- 400.000đồng thu giữa của A do phạm tội mà có.
- 1.000.000đồng thu của ông Thái Thanh P do A đã cho ông P.
- 210.000đồng là tiền An chuộc đồ tại tiệm cầm đồ H1, do bà Mai Thị Ngọc H1 tự nguyện giao nộp.
- 350.000đồng là tiền A phạm tội mà có đã mua đồ tại tiệm tạp hoá do chị Phạm Hồng T1 tự nguyện giao nộp.
Bản kết luận định giá tài sản số 360/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng vàng (loại dây dẹp ý, 61%, trọng lượng 2c2p,31, 2d) trị giá 7.198.000đồng (bảy triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSLT ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Thái Thanh A về tội “Cướp giật tài sản” theo d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
+ Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSLT ngày 01 tháng 02 năm 2024 và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo:
Thái Thanh A mức án từ 04 (bốn) năm tù đến 05 (năm) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 7.198.000đồng (bảy triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng), bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Đề nghị xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60G1 – 264.80 là tài sản hợp pháp của ông Thái Thanh P, ông P không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông P.
- 400.000đồng thu giữa của A do phạm tội mà có, 1.000.000đồng thu của ông Thái Thanh P do A đã cho ông P, 210.000đồng là tiền An chuộc đồ tại tiệm cầm đồ H1, do bà Mai Thị Ngọc H1 tự nguyện giao nộp và 350.000đồng là tiền A phạm tội mà có đã mua đồ tại tiệm tạp hoá do chị Phạm Hồng T1 tự nguyện giao nộp. Tất cả là 1.960.000đồng (một triệu chín trăm sáu mươi ngìn đồng) đã trả lại cho chị H.
Đối với ông Thái Thanh P, ông P được bị cáo cho số tiền 1.000.000đồng. Tuy nhiên, ông P không biết số tiền trên do phạm tội mà có, ông đã tự nguyện giao nộp lại, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không xử lý đối với ông P.
Đối với sợi dây chuyền bị cáo đã bán cho anh Lê Trần V, anh V không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có, anh V đã nung chảy không thu hồi được. Không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh V.
Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại Huỳnh Hồng H, chị H vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, việc vắng mặt bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại chị H.
[2] Bị cáo Thái Thanh A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận.
Lúc 14 giờ 15 phút ngày 04/10/2023, Thái Thanh A điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60G1 – 264.80 lưu thông trên đường Q hướng L đi B, khi đi đến đoạn đường gần Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện chị Huỳnh Thị Yến N điều khiển xe mô tô biển số 60AN – 078.30 chở theo phía sau là chị Huỳnh Hồng H đang lưu thông cùng chiều phía trước, A điều khiển xe bám theo phía sau, khi đến đoạn đường G thuộc ấp B, xã L, huyện L, A quan sát thấy vắng người đi đường nên A cho xe áp sát bên phải xe của chị Nhi đồng t dùng tay trái giật đứt sợi dây chuyền trên cổ chị H. Sau đó, tăng ga bỏ chạy để tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được sợi dây chuyền, A đến tiệm V1" ở ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai bán cho anh Lê Trần V được số tiền 6.900.000đồng rồi đi về nhà.
Hành vi của Thái Thanh A đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Với tiền tiết định khung hình phạt là dùng thủ đoạn nguy hiểm như Bản cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bản kết luận định giá tài sản số 360/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng vàng (loại dây dẹp ý, 61%, trọng lượng 2c2p,31, 2d) trị giá 7.198.000đồng (bảy triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo A không thắc mắc gì với Bản kết luận định giá tài sản số 360/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật bảo vệ, mặt khác còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi bị cáo gây án. Bị cáo đã thực hiện tội phạm bất chấp sự trừng trị của Pháp luật.
Vì vậy, bị cáo phải chịu một mức hình phạt thật nghiêm tương xứng hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo chính bản thân bị cáo và để răn đe phòng ngừa tội phạm.
[4] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo A quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo có thời gian phục vụ quân đội thuộc Vùng 4, QC H, xuất ngũ theo Quyết định số 323/QĐ-XN ngày 10/01/2023, nên xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường xon, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét xét.
[6]. Xử lý vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60G1 – 264.80 là tài sản hợp pháp của ông Thái Thanh P, ông P không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông P là đúng theo quy định pháp luật.
- 400.000đồng thu giữ của A do phạm tội mà có, 1.000.000đồng thu của ông Thái Thanh P do A đã cho ông P, 210.000đồng là tiền An chuộc đồ tại tiệm cầm đồ H1, do bà Mai Thị Ngọc H1 tự nguyện giao nộp và 350.000đồng là tiền A phạm tội mà có đã mua đồ tại tiệm tạp hoá do chị Phạm Hồng T1 tự nguyện giao nộp. Tất cả là 1.960.000đồng (một triệu chín trăm sáu mươi ngìn đồng) đã trả lại cho chị H. Ông P, chị H1, chị T1 không thắc mắc, yêu cầu gì trong vụ án này nên không xem xét.
- Đối với ông Thái Thanh P, ông P được bị cáo cho số tiền 1.000.000đồng. Tuy nhiên, ông P không biết số tiền trên do phạm tội mà có, ông đã tự nguyện giao nộp lại, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không xử lý đối với ông P.
- Đối với sợi dây chuyền bị cáo đã bán cho anh Lê Trần V, anh V không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có, khi bán cho anh V bị cáo cho rằng sợi dây chuyền trên là của vợ bị cáo bị cướp giật đứt nhưng không lấy được nên bị cáo bán. Sau khi mua, anh V đã nung chảy không thu hồi được. Không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh V.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Khoản 1 Điều 292; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Thái Thanh A phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt: Thái Thanh A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 06/10/2023.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hùng Minh Sang |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
