Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Quang, ông Trần Văn Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Văn T, T1 gọi khác: Không; Sinh ngày 10/11/1979; Nơi sinh: xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm A xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Con ông Bùi Xuân T2, sinh năm 1938 (đã chết) và bà Trần Thị Á, sinh năm 1938 (đã chết); Vợ là Hoàng Thị G, sinh năm 1988; Con: Có 2 (hai) người con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  2. Họ và tên: Hoàng Trần T3, T1 gọi khác: Không; Sinh ngày 16/3/1971; Nơi sinh: xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm B xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Con ông Hoàng Trần C, sinh năm 1938 (đã chết) và bà Trần Thị C1, sinh năm 1938 (đã chết); Vợ là Lê Thị T4, sinh năm 1972; Con: Có 01 (một) người con, sinh năm 2004; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  3. Họ và tên: Phạm Quốc H, T1 gọi khác: Không; Sinh ngày 02/7/1982; Nơi sinh: xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm C xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Phạm Công N, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1945; Vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1986; Con: Có 3 (ba) người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  4. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ1, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04/4/1986; Nơi sinh: xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm A, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đức T5, sinh năm 1959 (Liệt sỹ) và bà Bùi Thị N1, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Bản án số 101/2016/HSST ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xử phạt Nguyễn Văn Đ1 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  5. Họ và tên: Bùi Văn M, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02/8/1969, Nơi sinh: xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm A xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Con ông Bùi Văn L, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1945 (đã chết); Vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1983; Con: Có 3 (ba) người con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  6. Họ và tên: Lê Trọng V1, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/7/1971; Nơi sinh: xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm A xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Lê Trọng T6, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Lê Thị P, sinh năm 1944; Vợ là Trần Thị S, sinh năm 1976; Con: Có 3 (ba) con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  7. Họ và tên: Bùi Thế Q, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/9/1983; Nơi sinh: xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm B xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Bùi Thế T7, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1952; Vợ là Lê Thị B, sinh năm 1984; Con: Có 2 (hai) người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  8. Họ và tên: Mai Văn M1, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11/11/1980; Nơi sinh: xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm C xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Mai Văn T8, sinh năm 1942 (đã chết) và Võ Thị B1, sinh năm 1947; Vợ là Nguyễn Thị N2, sinh năm 1983; Con: Có 3 (ba) người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện Đ - Nghệ An. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thế Q là bà Nguyễn Thị H2 – Luật sư, Công tác viên trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh N – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, tại nhà ở của bị cáo Bùi Văn T, xóm A, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, có các bị cáo Hoàng Trần T3, Bùi Thế Q, Lê Trọng V1, đến uống nước chè và nói chuyện. Qua trình ngồi nói chuyện với nhau, T nói “trời mưa, ta uống nước chát xong rồi mần tí hầy”, mọi người đều hiểu ý của bị cáo T là đánh bạc nên đã ngầm hiểu và đồng ý. Sau đó, bị cáo T lấy chiếc chiếu nhựa của gia đình dùng để ngồi ăn cơm hàng ngày ra trải ở phòng khách giữa nhà và lấy 01 bộ bài T9 lơ khơ Tuyến để ở trong ngăn kéo bàn uống nước ra để phục vụ cho việc đánh bạc. Tuyến, T3, Q, V1 cùng thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh bài (liêng), mức cược mỗi ván đánh tẩy 20.000 đồng, cá cược tối đa số tiền 100.000 đồng. Các đối tượng sử dụng 52 quân bài từ A đến K của bộ B4 để đánh bạc với nhau. Mỗi người chơi được chia 3 quân bài, quy ước và thống nhất mỗi ván bài sẽ có một người phát bài. Bắt đầu mỗi ván, mỗi người bỏ ra giữa chiếu 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng), nếu muốn tham gia sát phạt ván bài đó thì người phát bài bỏ ra chiếu bạc tối thiểu 20.000 đồng, tối đa 100.000 đồng, tính theo chiều kim đồng hồ người tiếp theo muốn theo ván bài đó thì phải bỏ ra số tiền ngang bằng hoặc cao hơn số tiền của người ngồi trước mình đã bỏ ra nhưng không quá 100.000 đồng. Nếu không có người theo thì người bỏ tiền cao nhất thắng ván bài đó; nếu có người bỏ số tiền ngang bằng thì tính điểm bài; ba quân bài có số giống nhau gọi là (sáp) theo thứ tự 2 là nhỏ nhất, A là lớn nhất; bài (L) là bài có 3 quân bài liên tiếp nhau (nhỏ nhất là A, 2, 3 và lớn nhất là Q, K, A); bài (ảnh) là bài có 3 quân bài (J, Q, K nhưng không phải là bài liêng); Hai bài liêng hoặc hai bài ảnh có cùng giá trị coi như bằng nhau (Không so sánh chất) thì những người chơi bỏ ra số tiền tương ứng nhưng không lớn hơn 100.000 đồng để đánh lại ván bài đó (gọi là bài mua); nếu người thắng ván bài mua thì lấy ra 20.000 đồng để dưới chiếu cho chủ nhà tiền thuốc, nước (gọi là tiền hồ). Không phải các bộ có đặc biệt trên, người chơi sẽ cộng giá trị các quân trong bài để tính điểm. (A: 1 điểm; 10, J, Q, K tính là 0 điểm), 9 điềm là cao nhất. Người thắng là người phát bài để đánh ván tiếp theo. Trong lúc đang đánh bài, do Bùi Đăng T10 đang bận việc cá nhân nên chưa tham gia mà chỉ có Hoàng Trần T3, Bùi Thế Q và Lê Trọng V1 tham gia đánh bạc với nhau. Một lúc sau, Bùi Văn M, Nguyễn Văn Đ1, đến nhà T10 cùng ngồi vào chiếu tham gia đánh bạc và T10 cùng tham gia đánh bạc. Do không có tiền nên T10 đã mượn của Bùi Văn M số tiền 60.000 đồng (Sáu mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Tuyến chơi được một lúc thua hết tiền nên ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Cùng lúc đó, Phạm Quốc H, Mai Văn M1, đến nhà T10 thấy các đối tượng đang đánh bạc nên cùng ngồi vào chiếu tham gia đánh bạc cùng với Hoàng Trần T3, Bùi Thế Q, Lê Trọng V1, Bùi Văn M, Nguyễn Văn Đ1. Các đối tượng đánh bạc đến 22 giờ 30 phút cùng ngày 01/10/2024, thì bị tổ công tác Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 01 (một) bộ bài túlơkhơ có 52 (năm hai) quân bài; 01 (một) chiếc chiếu nhựa; thu giữ trên chiếu với số tiền 140.000 đồng; thu giữ dưới chiếu số tiền 220.000 đồng; thu giữ tại chỗ ngồi của Lê Trọng V1 số tiền 500.000 đồng; thu giữ tại chỗ ngồi của Nguyễn Văn Đ1 số tiền 170.000 đồng; thu giữ tại chỗ ngồi của Bùi Văn M số tiền 700.000 đồng; thu giữ tại chỗ ngồi của Phạm Quốc H số tiền 880.000 đồng; thu giữ của Hoàng Trần T3 trong túi quần phía trước bên trái số tiền 330.000 đồng, trong túi quần phía sau bên phải số tiền 1.100.000 đồng, trong túi áo phía trước bên trái số tiền 1.000.000 đồng; thu giữ tại chỗ ngồi của Bùi Thế Q số tiền 197.000 đồng; thu giữ tại chỗ ngồi của Mai Văn M1 số tiền 200.000 đồng, thu giữ trong túi quần bên phải của Mai Văn M1 số tiền 1.000.000 đồng; thu giữ trên mặt ghế tại chỗ ngồi của Bùi Văn T số tiền 1.080.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ lúc bắt quả tang là 7.517.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm mười bảy nghìn đồng).

Quá trình điều tra chứng minh được số tiền các đối tượng mang theo dùng để đánh bạc thắng, thua, gồm: Bùi Văn T sử dụng số tiền 60.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt T đã thua hết số tiền 60.000 đồng; Phạm Quốc H sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ của H số tiền 880.000 đồng (H thua số tiền 80.000 đồng); Hoàng Trần T3 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ của Thuộc số tiền 1.430.000 đồng (Thuộc thắng số tiền 430.000 đồng); Nguyễn Văn Đ1 sử dụng số tiền 350.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ của Đ1 số tiền 170.000 đồng (Đ1 thua số tiền 180.000 đồng); Bùi Văn M sử dụng số tiền 1.100.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ của M số tiền 700.000 đồng (M thua số tiền 400.000 đồng); Lê Trọng V1 sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ của V1 số tiền 500.000 đồng (V1 thua số tiền 300.000 đồng); Bùi Thế Q sử dụng số tiền 507.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ của Q số tiền 197.000 đồng (Q thua số tiền 310.000 đồng); Mai Văn M1 sử dụng số tiền 1.300.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ của M1 số tiền 1.200.000 đồng (Mỹ thua số tiền 100.000 đồng).

Như vậy, trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, đã chứng minh được tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là: 6.517.000 đồng. Trong đó Bùi Văn T sử dụng 60.000 đồng; Phạm Quốc H 1.000.000 đồng; Hoàng Trần T3 1.000.000 đồng; Nguyễn Văn Đ1 350.000 đồng; Bùi Văn M 1.100.000 đồng; Lê Trọng V1 800.000 đồng; Bùi Thế Q 507.000 đồng; Mai Văn M1 1.300.000 đồng và 400.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc.

Tại Kết luận giảm định số 203/KL-KTHS (Đ3-TL) ngày 09/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận số tiền 7.517.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo gửi đến giám định là tiền thật.

Cáo trạng số 107/CT-VKS-ĐL ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Trần Duy Đ2, Lê Văn B2, Đàm Sỹ B3, Nguyễn Cảnh Đ3, Quang Thị Y về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Về hình phạt:

  • - Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T từ 08 (T11) tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng đến 20 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trần T3 từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 từ 09 (chín) tháng tù đên 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Bùi Thế Q từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Mai Văn M1 từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Giao các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Bùi Thế Q, Mai Văn M1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An quản lý, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
  • - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92; Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
  • - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc H từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng sung công quỹ Nhà nước.
  • - Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của BLHS.
  • - Xử phạt bị cáo: Bùi Văn M từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng sung công quỹ Nhà nước.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Trọng V1 từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng sung công quỹ Nhà nước.
  • - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
  • - Về vật chứng:
  • - Áp dụng: Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
  • - Tuyên xử: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 6.517.000 (Bảy triệu bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng; Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài ; 01 (một) chiếc chiếu.
  • - Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Quốc H, Bùi Văn M, Lê Trọng V1, Mai Văn M1 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Thế Q.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thế Q là Luật sư Nguyễn Thị H2 trình bày: Việc khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo Bùi Thế Q về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS là đúng nên không có quan điểm tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị và áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Thế Q.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố là đúng nên không tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà có cơ sở để kết luận: Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, tại nhà bị cáo Bùi Văn T thuộc xóm A, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An, bắt quả tang các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Phạm Quốc H, Nguyễn Văn Đ1, Bùi Văn M, Lê Trọng V1, Bùi Thế Q, Mai Văn M1, đang đánh bạc bằng hình thức đánh bài (Liêng). Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 6.517.000 đồng (Sáu triệu năm trăm mười bảy nghìn đồng). Tại thời điểm thực hiện hành vi đánh bạc các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; các bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiến hành vi của mình. Như vậy, hành vi các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Quốc H, Bùi Văn M, Lê Trọng V1, Bùi Thế Q, Mai Văn M1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất hành vi của các bị cáo.

Tội phạm mà các bị cáo thực hiện thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích phạm tội đánh bạc để có tiền tiêu xài và thỏa mãn nhu cầu cá nhân; Vì vậy, cần xử phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[2.2]. Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, tuy nhiên cần phân hóa vai trò, vị trí, nhân thân, các tình tiết tăng năng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mỗi bị cáo để xét xử cho mỗi bị cáo mức hình phạt tương xướng với tính chất, mức độ hành vi của mỗi bị cáo.

Các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Quốc H, Bùi Văn M, Lê Trọng V1, Bùi Thế Q, Mai Văn M1 phạm tội không có tình tiết tăng nặng;

Đối với bị cáo Bùi Văn T là chủ nhà khi mọi người đến chơi bị cáo đã gợi ý cho các bị cáo khác thực hiện việc đành bạc và bị cáo cũng tham gia đánh cùng và xác định bị cáo là người thực hành tích cực. Vì vậy, cần lên cho bị cáo mức án nghiêm và cao hơn so với các bị cáo khác. Tuy nhiên, quá trình đánh bạc bị cáo là người sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất (bị cáo sử dụng số tiền để đánh bạc là 60.000 đồng) và thời gian đánh bạc ít hơn so với các bị cáo khác; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 là người thực hành tích cực là người thực hành tích cực, khi đến nhà bị cáo T chơi thấy các bị cáo khác đang đánh bạc thì vao tham gia ngay, bị cao đã từng bị Tòa án xét xử 01 lần, sau khi chấp hành án xong không lấy đó làm bài học để rèm luyện tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án cao hơn các bị cáo còn lại. Tuy nhiên, Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có cha ông Nguyễn Đức T5 là Liệt sỹ trong kháng chiến biên giới T, được Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng ba. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Mặt khác, lần phạm tội này bị cáo sử dụng số tiền để đánh bạc ít. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú ổn định, mặc dù đã từng bị Tòa án xét xử và đã chấp hành xong bản án, thời gian chấp hành xong bản án đã lâu, kể từ khi chấp hành xong bản án đến lần phạm tội này bị cáo Đức luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và quy định tại địa phương và nơi cư trú. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Đối với bị cáo Mai Văn M1 là người thực hành tích cực, khi đến nhà bị cáo T chơi thấy các bị cáo khác đang đánh bạc thì vào tham gia ngay, bị cáo là người sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú ổn định và bị cáo là người có nhân thân tốt. Vì vậy, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Đối với bị cáo Hoàng Trần T3 là người thực hành tích cực, khi đến nhà bị cáo T chơi và nghe rủ rê đánh bạc bị cáo đã đồng ý ngay. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có cha đẻ là ông Hoàng Trần C là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương kháng chiến hạng nhất, nhì, ba. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo là người có nhân thân tốt nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nhưng bị cáo có điều kiện khó khăn về kinh tế nên không thế áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Đối với bị cáo Bùi Thế Q là người thực hành tích cực, khi đến nhà bị cáo T chơi và thấy các bị cáo khác đang đánh bạc bị cáo đã vào tham gia đánh bạc cùng. Tuy nhiên, qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có cha đẻ là ông Bùi Thế T7 là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến nhì. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo là người có nhân thân tốt nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nhưng bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không thế áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Đối với bị cáo Phạm Quốc H, Bùi Văn M, Lê Trong V là người thực hành tích cực khi biết việc đánh bạc của các bị cáo khác đã đồng ý và tham gia đánh bạc cùng. Tuy nhiên, Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Phạm Quốc H có có cha đẻ là ông Phạm Công N và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Đ là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, huy chương kháng chiến hạng ba; bà Nguyễn Thị Đ là thương binh nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo là người có nhân thân tốt và có đủ điều kiện về kinh tế. Vì vậy, không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Bùi Thế Q, Mai Văn M1 có hoàn cảnh, điều kiện kinh tế khó khan; bị cáo cáo Phạm Quốc H, Bùi Văn M, Lê Trong V2 đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[2.4]. Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An đã thu giữ các vật chứng gồm: Số tiền 7.517.000 đồng, trong đó chứng minh được số tiền 6.517.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước; Số tiền 1.000.000 đồng thu của bị cáo Hoàng Trần T3 không liên quan đến hành vi đánh bạc nên trả lại cho bị cáo T3 là đúng quy định; Đối với 01 (một) bộ bài Túlơkhơ, có 52 (năm mươi hai) quân bài; 01 (một) chiếc chiếu nhựa là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[3] Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Quốc H, Bùi Văn M, Lê Trọng V1, Bùi Thế Q, Mai Văn M1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Bùi Thế Q thuộc đối tượng hộ nghèo nên được miễn an phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14.

[4] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và của người bào chữa cho bị cáo Bùi Thế Q về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Quốc H, Bùi Văn M, Lê Trọng V1, Bùi Thế Q, Mai Văn M1 phạm tội "Đánh bạc".

Về hình phạt:

  • - Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trần T3 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Bùi Thế Q 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Mai Văn M1 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024).

Giao các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Bùi Thế Q, Mai Văn M1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An quản lý, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92; Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của BLHS.
  • - Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung công quỹ Nhà nước.
  • - Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của BLHS.
  • - Xử phạt bị cáo: Bùi Văn M 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng sung công quỹ Nhà nước.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Trọng V1 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng sung công quỹ Nhà nước.
  • - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

Về vật chứng:

  • - Áp dụng: Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
  • - Tuyên xử: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 6.517.000 (Sáu triệu năm trăm mười lăm nghìn) đồng (Theo biên bản giao nhận tài sản số 05/2024/BBBG-KBĐL ngày 15/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An với Kho bạc nhà nước huyện Đ, tỉnh Nghệ An). Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài ; 01 (một) chiếc chiếu nhiều màu sắc, kích thước 1,8x3m (Theo biên bản giao nhận ngày 14 tháng 11 năm 2024 giữ Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An).

Về án phí:

  • - Áp dụng: Điều 136 BLTTHS; Điều 12; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  • - Tuyên xử: Các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Quốc H, Bùi Văn M, Lê Trọng V1, Mai Văn M1 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Thế Q.
  • - Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đô Lương;
  • - Công an huyện Đô Lương;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Đô Lương;
  • - Các bị cáo;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Duy Phi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger