Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Ngân ;

2. Bà Vũ Thị Lan Hương;

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Xuân C; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 21/4/1988 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: Tổ E, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Xuân Đ (đã chết) và bà Hoàng Thị Thủy s năm 1964; Bị cáo chưa có vợ, con;Tiền án: Không;Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/4/2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L . Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn G; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/11/1976 tại thành phố Y, tỉnh Yên Bái;

Nơi cư trú: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Bảo vệ ga L; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T sinh năm 1945 và bà Đặng Thị Lâm s1 năm 1945; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị A (đã ly hôn); Bị cáo 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ 2007; Tiền án: Không tiền sự: Không.

Là Đảng viên Đ1 (Hiện bị cáo đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 196-QĐ/ĐU ngày 24/4/2024 của Ủy bản kiểm tra Đảng ủy Tổng công ty Đ2);

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 09/4/2024, bị cáo Phạm Xuân C đang ở nhà thì này sinh ý định đi mua ma tuý Heroine về bán kiếm lời. Bị cáo Phạm Xuân C một mình đi xe ôm của một người nam giới không quen biết từ đầu cầu K, phường K, thành phố L vào khu vực đường vào nhà máy T1, thành phố L mua ma túy của một người nam giới (không rõ tên tuổi) được 02 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Khi về nhà, bị cáo Phạm Xuân C sử dụng một phần ma tuý, số ma túy còn lại bị cáo Phạm Xuân C chia ra làm 04 gói ma tuý rồi để 02 gói ma tuý trong vỏ bao thuốc lá cất giấu ở trên bàn cạnh giường ngủ, 02 gói ma tuý còn lại cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo Nguyễn Văn G gọi điện thoại cho bị cáo Phạm Xuân C để hỏi mua 01 gói ma túy mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo Chung hẹn bị cáo G đi ra khu vực đường H, tổ E, phường K để giao nhận ma túy. Sau khi mua được 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn G cầm số ma túy trên trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà.

Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn G đang dừng đỗ xe mô tô BKS 24K6 – 6831 ở ven đường K thuộc tổ B, phường L, thành phố L thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L yêu cầu kiểm tra và bắt giữ trước sự chứng kiến của anh nguyễn Duy H (sinh năm 1989, địa chỉ tổ dân phố B, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai).

Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi Phạm Xuân C đang đứng trên vỉa hè đường T, phường K, thành phố L thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L kiểm tra, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Xuân C tự giác giao nộp 02 gói ma túy cất giấu trong vỏ bao thuốc lá đặt trên mặt bàn nhựa kê sát phòng ngủ. Quá trình làm việc bị cáo Phạm Xuân C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định ngày 09/4/2024 và Tại Kết luận giám định số 153/KL-GĐMT ngày 15/4/2024 của Phòng K công an tỉnh L xác định: Số ma túy thu giữ ngày 09/4/2024 của Nguyễn Văn G có khối lượng là: 0,135 gam là heroine.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định ngày 10/4/2024 và kết luận giám định số 154/KL-GĐMT ngày 15/4/2024 của Phòng K công an tỉnh L xác định: Số ma túy thu giữ ngày 09/4/2024 của Phạm Xuân C có khối lượng là: 0,116 gam là heroine.

Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Phạm Xuân C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Xuân C, Nguyễn Văn G về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân C từ 2 năm đến 2 năm 3 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1

3

điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Xuân C, Nguyễn Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ và kết luận giám định, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến. Ngày 09/4/2024 bị cáo Phạm Xuân C đã có hành vi mua ma túy theo kết luận giám định tổng khối lượng ma túy bị cáo Chung đã mua là 0,251gam heroine mục đích về để bán kiếm lời. Ngày 09/4/2024 Bị cáo Nguyễn Văn G đã mua của bị cáo Phạm Xuân C 0,135 gam heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.

    Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Phạm Xuân C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn G cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

  3. Về hình phạt:

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội xử phạt các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

  4. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
    • Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
    • Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

4

Bị cáo Phạm Xuân C có nhân thân xấu: Năm 2009 bị đưa đi cai nghiện, năm 2020 bị xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, tuy nhiên các tiền sự đến nay đều đã được xóa.

  1. Về hình phạt bổ sung:

    Các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập vì vậy không phạt bổ sung đối với các bị cáo xét thấy là phù hợp.

  2. Về vật chứng vụ án:

    Đối với số ma túy còn lại sau trích mẫu giám định, xét thấy heroin là thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự là phù hợp.

    Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiêu Nokia thu giữ của Nguyễn Văn G và 01 điện thoại Masstel thu giữ của Phạm Xuân C, xét thấy các bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy, do vậy cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

    Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Phạm Xuân C, xét thấy đây là số tiền do bị cáo Phạm Xuân C bán ma túy mà có nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp.

  3. Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

    Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 24K6 – 6831 tạm giữ của Nguyễn Văn G ngày 09/4/2024 và 01 xe đạp mà bị cáo Phạm Xuân C sử dụng làm phương tiện đi bán ma tuý ngày 09/4/2024. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp và xác định các chủ sở hữu phương tiện không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

    Đối với người lái xe ôm đưa bị cáo Phạm Xuân C và người nam giới không rõ tên tuổi, địa chỉ, đã bán ma túy cho Phạm Xuân C ngày 09/4/2024. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo Phạm Xuân C thì không có tài liệu nào khác để chứng minh, do vậy không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.

  4. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

    Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Về đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với các bị cáo xét thấy là phù hợp.

  5. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09/4/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09/4/2024.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 bì thư được tái niêm phong của Phòng K Công an tỉnh L bên trong đựng 0.090 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ. Trên một mặt bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn G ngày 09/4/2024 tại tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai";
    • 01 bì thư được tái niêm phong của Phòng K Công an tỉnh L bên trong đựng 0.078 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ. Trên một mặt bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Xuân C tại tổ E, phường K, thành phố L ngày 09/4/2024";

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

    01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei 1: 356943091705039 bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Văn G; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số Imei: 355938079437846 bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại (đã qua sử dụng) thu giữ của Phạm Xuân C.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L);

    Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Phạm Xuân C theo giấy nộp tiền ngày 08/5/2024 vào tài khoản của Công an thành phố L số 3949.0.9049863 tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Anh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKS thành phố Lào Cai;
  • - Công an TP Lào Cai (2);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
  • - Các bị cáo (2);
  • - Chi cục THADS TP Lào Cai;
  • - Lưu HS; TA

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị A1

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân C bị VKS truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo k1 điều 251 BLHS; Nguyễn Văn G bị VKS truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger